vanban.org

Bản án 253/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Diễm L.

Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Diễm L ly hôn với ông Ngô Minh T. Về con chung: Giao cháu Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011 cho bà Lê Diễm L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Diễm L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07/7/2026.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hiếu Nghĩa.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 -An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài– Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 702/2026/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2026, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 236/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Diễm L - sinh năm 1984, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Ngô Minh T - sinh năm 1978, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2026, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Lê Diễm L như sau:

Bà và ông Ngô Minh T cưới nhau vào năm 2003, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 17/03/2011.

Vợ chồng ông bà sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cự cãi về vấn đề tiền bạc, không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp được, chồng bà thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, khi nhậu về thì kiếm chuyện cãi nhau với bà. Khi nhậu say thường đem chuyện gia đình tâm sự với hàng xóm, hay nạnh việc với bà, yêu cầu bà làm việc phải bằng với ông T. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Ngô Minh T nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Minh T.

Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 02 người con chung tên Ngô Minh T1

- sinh ngày 06/03/2004 đã trưởng thành và Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Ngô Minh T.

Về con chung: Bà yêu cầu tiếp tục nuôi con chung tên Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011 và không yêu cầu ông Ngô Minh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Ngô Minh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Ngô Minh T không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Ngô Minh T.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Lê Diễm L được ly hôn với ông Ngô Minh T. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011 cho bà Lê Diễm L tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Lê Diễm L và ông Ngô Minh T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Ông Ngô Minh T là bị đơn trong vụ án, ông Ngô Minh T có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Ngô Minh T vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Ngô Minh T vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Ngô Minh T.

Bà Lê Diễm L có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Lê Diễm L không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử cũng như nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Lê Diễm L.

Về hôn nhân: Bà Lê Diễm L và ông Ngô Minh T cưới nhau vào năm 2003, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 333/2011, ngày 17/3/2011, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Lê Diễm L và ông Ngô Minh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Lê Diễm L và ông Ngô Minh T là hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc khoảng 10 năm và có 02 người con chung nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Lê Diễm L cho rằng do vợ chồng thường xuyên cự cãi về vấn đề tiền bạc, không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp được, chồng bà thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, khi nhậu về thì kiếm chuyện cãi nhau với bà. Khi nhậu say thường đem chuyện gia đình tâm sự với hàng xóm, hay nạnh việc với bà, yêu cầu bà làm việc phải bằng với ông T. Tuy vợ chồng ông bà không sống ly thân nhưng ông T thường xuyên đi làm ăn xa vài tháng mới về nhà một lần. Lúc ông T đi làm xa bà có liên lạc với ông T nhưng khi nói chuyện với nhau được vài tiếng thì lại cãi nhau về vấn đề tiền bạc, công việc của nhau. Từ tháng 01/2026 bà không còn liên lạc với ông T do bà có gọi điện nhiều lần nhưng ông T không nghe máy. Ngày 12/5/2026 và ngày 29/5/2026, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Ngô Minh T vắng mặt. Xét thấy, vợ chồng ông bà không ly thân nhưng ông T thường xuyên vắng nhà do đi làm ăn xa, từ tháng 01/2026 bà L và ông Ngô Minh T không liên lạc với nhau, khi Tòa án mời ông Ngô Minh T đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Ngô Minh T không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Lê Diễm L cương quyết xin ly hôn với ông Ngô Minh T và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Ngô Minh T, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Diễm L.

Về con chung: Bà Lê Diễm L và ông Ngô Minh T có 02 người con chung tên Ngô Minh T1 - sinh ngày 06/03/2004 đã trưởng thành và Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Ông Ngô Minh T không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Lê Diễm L yêu cầu tiếp tục nuôi con chung tên Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011 và cháu T2 có nguyện vọng sống chung với mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Diễm L.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Diễm L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Diễm L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Lê Diễm L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 303907, ngày 26/3/2026, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Diễm L.

Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Diễm L ly hôn với ông Ngô Minh T.

Về con chung: Giao cháu Ngô Thanh T2 - sinh ngày 28/12/2011 cho bà Lê Diễm L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Ngô Minh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Diễm L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 303907, ngày 26/3/2026, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ