vanban.org

Bản án 253/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGÂN HÀNG TMCP K"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2026/DS-ST
Ngày: 24-6-2026.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Ánh Trinh

2. Ông Nguyễn Văn Dẫn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 254/2026/TLST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2026 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1198/2026/QĐXX-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 1236/2026/QĐST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K

Địa chỉ: 4 P, phường R, tỉnh An Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2002, có mặt

Địa chỉ: I đường B khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ. Văn bản uỷ quyền ngày 09/7/2024

- Bị đơn:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, vắng mặt lần thứ 2 không lý do

2. Chị Lý Thị Cẩm T1, sinh năm 1992, vắng mặt lần thứ 2 không lý do

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1968, đề nghị vắng mặt

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Trước đây, ông Nguyễn Văn P là cộng tác viên của ngân hàng TMCP K1, có ký hợp đồng dịch vụ và công việc của ông P là giới thiệu khách hàng cho ngân hàng. Hiện nay ông P cũng không còn là cộng tác viên với ngân hàng nữa.

Bị đơn Nguyễn Văn T và Lý Thị Cẩm T1 là khách hàng do ông P giới thiệu, có vay tiền của ngân hàng TMCP K1, có ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A880621/HĐTD – CC + A880622 ngày 13/9/2019 vay số tiền 40.000.000đ, đã được nhận đủ số tiền 40.000.000đ cùng ngày.

Mục đích vay tiêu dùng.

Lãi suất vay 16%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi trong hạn.

Thời hạn vay 180 ngày. Ngày trả nợ đầu tiên là 14/9/2019 và ngày trả cuối là 11/3/2020.

Hình thức vay là có cầm cố xe hai bánh biển số 65H1 – 257.79, do Nguyễn Văn T đứng tên. Xe do anh T quản lý còn giấy tờ xe do ngân hàng quản lý.

Phương thức trả nợ là hàng ngày người vay đều phải trả cho ngân hàng 239.754đ, trong đó gốc là 222.220đ, nợ lãi là 17.534đ và người thu tiền chính là ông Pháp, sau đó ông P sẽ giao tiền cho ngân hàng. Ngân hàng với ông P có thoả thuận hàng ngày ông P đều phải giao tiền về cho ngân hàng sau khi thu tiền của khách hàng. Hình thức giao tiền là khi ông P có đủ tiền trong tài khoản thì ngân hàng sẽ trích thu từ tài khoản còn không đủ tiền ông P sẽ đóng tiền mặt thêm, trong đó ngân hàng sẽ có sao kê đầy đủ trong ngày từng khách hàng trả tiền cho ngân hàng. Ngân hàng có giao cho ông P cuốn sổ để ông P tự theo dõi khi thu tiền của ai được bao nhiêu thì khách hàng sẽ được ký nhận vào sổ và cho đến khi khách hàng đã trả hết nợ sẽ được ông P giao giữ sổ luôn.

Ông P cho rằng đã giao sổ sách cho ngân hàng khi ông thôi làm cộng tác viên là không đúng. Ông P không có giao cho ngân hàng giữ cuốn sổ nào. Bị đơn đã trả được nợ gốc 17.777.620đ, nợ lãi: 1.402.720đ, bị đơn vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng kể từ ngày 24/11/2019 đến nay không thanh toán cho ngân hàng.

Nay ngân hàng yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn T và Lý Thị Cẩm T1 có trách nhiệm trả cho ngân hàng tính đến ngày 13/4/2026 nợ gốc 22.222.400đ, lãi trong hạn 1.753.400đ, lãi quá hạn 33.292.818đ. Tổng cộng 57.268.618đ.

Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/3/2026:

Trước đây ông là cộng tác viên của ngân hàng TMCP K1, có ký hợp đồng dịch vụ và công việc của ông là giới thiệu khách hàng cho ngân hàng.

Nguyễn Văn T và Lý Thị Cẩm T1 có vay tiền của ngân hàng TMCP K1, có ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố. Số tiền vay 40.000.000đ.

Về phương thức trả nợ là trả trực tiếp cho ông là người thu tiền hàng ngày rồi nộp tiền lại cho ngân hàng. Số tiền thu bao nhiêu không nhớ nhưng ông thu tiền được là nộp hết về ngân hàng.

Về số tiền vay của anh T và chị T1 là không thu được nhiều, họ không trả và đến nay còn nợ lại ngân hàng bao nhiêu cũng không biết, do chưa đối chiếu lại khách hàng, nhưng nhớ nợ gốc còn khoảng 22.000.000đ. Quá trình thu nợ của khách hàng và nộp về ngân hàng đều có lập sổ theo dõi nhưng khi thôi làm cộng tác viên cho ngân hàng thì sổ sách theo dõi ngân hàng đã giữ hết, ông không giữ. Nên không cung cấp được cho Toà án. Hiện nay ông cũng không còn làm cộng tác viên cho ngân hàng nữa.

Qua yêu cầu khởi kiện của ngân hàng ông không ý kiến, anh T và chị T1 nợ ngân hàng thì họ có trách nhiệm trả nợ. Do bận công việc nên đề nghị vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng tại các cấp Toà án và đối chất (nếu có).

Phần các đương sự trình bày tại phiên tòa như sau:

Đại diện nguyên đơn: nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Tính đến ngày 24/6/2026 bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn nợ gốc 22.222.400đ, nợ lãi trong hạn 1.753.400đ, nợ lãi quá hạn 34.344.862đ, tổng cộng 58.320.662đ và yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ.

Trong quá trình giải quyết nguyên đơn có trình bày số tiền nợ gốc bị đơn đã trả được 17.777.620đ là chưa đúng, số tiền đúng là 17.777.600đ.

Trường hợp không thanh toán được nợ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là xe hai bánh biển số 65H1 – 257.79, chủ xe Nguyễn Văn T. Hiện tại xe do Nguyễn Văn T đang quản lý.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 24/6/2026 nợ gốc nợ gốc 22.222.400đ, nợ lãi trong hạn 1.753.400đ, nợ lãi quá hạn 34.344.862đ, tổng cộng 58.320.662đ.

Về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng. Căn cứ Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không lý do, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt.

Về nội dung: nguyên đơn ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K1 khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tính đến ngày 24/6/2026 nợ gốc 22.222.400đ, nợ lãi trong hạn 1.753.400đ, nợ lãi quá hạn 34.344.862đ, tổng cộng 58.320.662đ và yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 13/9/2019 giữa nguyên đơn ngân hàng TMCP K1 với bị đơn Nguyễn Văn T, Lý Thị Cẩm T1 ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A880621/HĐTD – CC + A880622 về việc cho bị đơn vay số tiền 40.000.000đ, bị đơn đã được giải ngân số tiền 40.000.000đ theo khế ước nhận nợ số A880621/KUNN + 622 ngày 13/9/2019. Mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 180 ngày với lãi suất 16%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150%. Hình thức trả góp nợ gốc và lãi theo định kỳ hàng ngày, kể từ ngày 14/9/2019 đến ngày 11/3/2020.

Xét thấy, Hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; nội dung và hình thức không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận.

Quá trình giải quyết Toà án đã thông báo cho bị đơn biết về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và triệu tập bị đơn nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt và không giao nộp, cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ để chứng minh và không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

Để đảm bảo cho khoản vay, bị đơn đã ký kết Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố ngày 13/9/2019 tài sản bảo đảm là: 01 xe máy biển số 65H1 – 257.79, nhãn hiệu YAMAHA, số khung 3240HY067407, số máy E3X9B173310, chủ xe Nguyễn Văn T, chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 015233 do Công an huyện T (cũ) cấp. Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố ngày 13/9/2019 được các bên xác nhận, giao kết là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về nội dung và hình thức nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện do đó, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 254, 262, 264, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K1.

Buộc bị đơn Nguyễn Văn T, Lý Thị Cẩm T1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K1 số tiền nợ gốc 22.222.400đ (hai mươi hai triệu, hai trăm hai mươi hai nghìn, bốn trăm đồng), nợ lãi trong hạn 1.753.400đ (một triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn, bốn trăm đồng), nợ lãi quá hạn 34.344.862đ (ba mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn, tám trăm sáu mươi hai đồng), tổng cộng 58.320.662đ (năm mươi tám triệu, ba trăm hai mươi nghìn, sáu trăm sáu mươi hai đồng).

Kể từ ngày 25/6/2026 bị đơn Nguyễn Văn T, Lý Thị Cẩm T1 còn phải chịu lãi suất phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng các bên đã giao kết, đến khi thanh toán dứt nợ.

Trong trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc không thanh toán đủ số nợ trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố ngày 13/9/2019 tài sản bảo đảm là: 01 xe máy biển số 65H1 – 257.79, nhãn hiệu YAMAHA, số khung 3240HY067407, số máy E3X9B173310, chủ xe Nguyễn Văn T, chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 015233 do Công an huyện T (cũ) cấp để ưu tiên thu hồi nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn Nguyễn Văn T, Lý Thị Cẩm T1 phải nộp 2.916.000đ (hai triệu chín trăm mười sáu nghìn đồng).

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 1.391.533đ (một triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm ba mươi ba đồng) theo biên lai thu tiền số 0001542, ngày 22/01/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hàn án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ