vanban.org

Bản án 253/2024/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lưu Nguyễn Trường K

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên bố bị cáo Lưu Nguyễn Tường K phạm tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cao K bi xet xu ve toi Lua dao chiem doat tai san - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lưu Nguyễn Trường K
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2024/HS-PT
Ngày: 27 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Giàu.

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu

Ông Mai Văn Hùng Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 215/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Nguyễn Tường K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Lưu Nguyễn Tường K, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1991 tại tỉnh Tiền Giang; Số căn cước công dân: 082091016883; Nơi cư trú: Số /5 ấp , xã Đ T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Minh M và bà Nguyễn Thị Thu L; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh L và có 01 người con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án có 01 bị hại, 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên Lưu Nguyễn Tường K nảy sinh ý định thuê người làm Hợp đồng ủy quyền giả rồi sử dụng Hợp đồng ủy quyền này để thế chấp chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha ruột là ông Lưu Minh M, sinh năm 1957, ngụ cùng địa chỉ với K tại số Ấp , xã Đ T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để thế chấp cho anh Lê Minh L, sinh năm 1986, cư trú số /1 Tổ , ấp M L, xã M P, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vay tiền.

Sáng ngày 14/01/2019, K lên mạng Internet tìm trang web làm giấy tờ giả (không nhớ tên trang web), sau đó nhắn tin vào web thì có tài khoản Zalo tên “Dịch vụ giấy tờ” nhắn tin vào tài khoản zalo của K, hai bên trao đổi thông tin làm Hợp đồng ủy quyền giả. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M để trong tủ trong phòng K (K và ông M cùng sử dụng chung tủ) nên K đã lấy giấy chứng nhận ra, sử dụng điện thoại chụp lại các thông tin trên giấy chứng nhận và thông tin cá nhân của K gửi vào tài khoản zalo trên, thỏa thuận tiền công làm giấy giả với giá 4.000.000 đồng, hẹn sau 21 giờ cùng ngày lấy giấy. Sau đó, K đi xe mô tô đến bến xe An Sương, tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì gặp một nam thanh niên (không biết họ tên, địa chỉ) để nhận giấy tờ giả là “Hợp đồng ủy quyền sở hữu là quyền sử dụng đất” có số công chứng 579 ngày 05/01/2019 tại Văn phòng công chứng Cửu Long tỉnh Tiền Giang, số 0 A B, phường , thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang có chữ ký của Công chứng viên Bạch Văn H, nội dung ông Lưu Minh M ủy quyền cho Lưu Nguyễn Tường K được toàn quyền quyết định về việc sử dụng đất đối với phần đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00797, thửa đất số , tờ bản đồ số , diện tích 2.200m2 tọa lạc tại Ấp , xã L T, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 23/01/2014 cho ông Lưu Minh M. Nhận hợp đồng ủy quyền xong, K trả cho nam thanh niên 4.000.000 đồng rồi quay về nhà. Do hợp đồng chưa có chữ ký của K và ông M nên K đã trực tiếp ký giả tên Lưu Minh M, đồng thời sử dụng ngón trỏ trái của K để in dấu vân tay vào Hợp đồng ủy quyền.

Sau khi có Hợp đồng ủy quyền giả, K đem hợp đồng cùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số CH00797 nêu trên gặp anh Lê Minh L để thỏa thuận vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 02%/tháng. Anh L đồng ý cho K vay tiền với điều kiện phải đến Văn phòng công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số CH00797 để đảm bảo khoản vay nhưng trong hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi giá trị chuyển nhượng là 100.000.000 đồng.

Ngày 17/01/2019, K cùng anh L đến Văn phòng công chứng Lâm Thị Minh N, địa chỉ số - 46 N K K N, phường , thành phố Mỹ Tho (nay trụ sở dời về địa chỉ số B L L, phường , thành phố Mỹ Tho) ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mục đích để vay tiền. K đưa cho L hợp đồng ủy quyền giả, sổ hộ khẩu chủ hộ Lưu Minh M và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số CH00797 cho anh L để anh L nộp hồ sơ và ký phiếu yêu cầu công chứng. Sau khi K và anh L đã ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng thì anh Đặng Minh S là Công chứng viên Trưởng Văn phòng công chứng Lâm Thị Minh N kiểm tra hồ sơ thì phát hiện Hợp đồng ủy quyền là giả nên trình báo vụ việc đến Công an thành phố Mỹ Tho. Do biết hợp đồng ủy quyền là giả nên L chưa đưa 300.000.000 đồng cho K.

Tại Kết luận giám định số 278 ngày 20/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:

1. Chữ ký, chữ viết họ tên “Lưu Minh M” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết họ tên “Lưu Minh M” trên các tài liệu mẫu ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một người ký và viết ra;

2. Chữ ký, chữ viết họ tên “Lưu Nguyễn Tường K” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết họ tên “Lưu Nguyễn Tường K” trên các tài liệu mẫu ký hiệu M4, M5, M6 là do cùng một người ký và viết ra;

3. Chữ ký đứng tên “Bạch Văn H” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu;

4. Hình dấu tròn có nội dung “S.Đ.K. H.Đ: 30-C.T.H.D – TP. MỸ THO-T. TIỀN GIANG – VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG C L” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 là giả, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu;

5. Dấu vân tay in trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với điểm chỉ vân tay ngón trỏ trái trên chỉ bản đứng tên Lưu Nguyễn Tường K, sinh ngày 18/6/1991, ngụ ấp , xã Đ T, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (ký hiệu M4, M5) là dấu vân tay của cùng một người in ra;

6. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 129636 (ký hiệu A2) so với mẫu Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (ký hiệu M12, M13) là được in ra từ cùng một bản in;

7. Chữ ký đứng tên “Phan Minh H” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký đứng tên “Phan Minh H” trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M8 đến M11 là do cùng một người ký ra;

8. Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D HUYỆN CAI LẬY – TỈNH TIỀN GIANG” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M8 đến M11 là do cùng một con dấu đóng ra.

Trong quá trình điều tra, truy tố: Bị can Lưu Nguyễn Tường K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp vật chứng thu giữ, kết quả giám định, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị can không có tình tiết tăng nặng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án và xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Văn phòng công chứng C L, ông M và anh L đều không yêu cầu K bồi thường.

Đối với anh Lê Minh L là người trực tiếp nộp Hợp đồng ủy quyền giả để yêu cầu công chứng, tuy nhiên anh L không biết hợp đồng K đưa là giả nên Cơ quan điều tra không xử lý anh L là có căn cứ.

Đối với người mà K thuê làm hợp đồng ủy quyền giả, do K không rõ thông tin họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập ghi lời khai được, sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lưu Nguyễn Tường K phạm tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 15; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 55; Điều 57 Bộ Luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Tường K 03 năm tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lưu Nguyễn Tường K có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin xem xét được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới đề xem xét, nên kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Nguyễn Trường K đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Làm giả giấy nhầm mục đích Lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại; truy tố và xét xử sơ thẩm bị cáo K phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.” theo quy định điểm điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt: Xem xét bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi sử dụng tài liệu giấy tờ giả của bị cáo đã hoàn thành, ý thức hành vi phạm tội mà vẫn thực hiện; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã được cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và tại khởi điểm của khung hình phạt liền kề theo Điều 54, Điều 57 Bộ luật hình sự là đã có lợi cho bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo có bổ sung tình tiết gia đình bị cáo có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ được xem xét tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt đối với bị cáo đến mức thấp nhất, nên đây không được xem là căn cứ để tiếp tục giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lưu Nguyễn Trường K

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

2. Tuyên bố bị cáo Lưu Nguyễn Tường K phạm tội: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 15; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55; Điều 57 Bộ Luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Tường K 03 năm tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

3. Về án phí:

Bị cáo Lưu Nguyễn Trường K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ