- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Do mâu thuẫn gia đình ông Mai Thanh H khởi kiện ly hôn bà Nguyễn Thị G"
- Tòa quyết gì? Các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 253/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23/3/2023 V/v : Tranh chấp ly hôn giữa anh H và chị G |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Thục Hiền
2. Ông Đoàn Văn Rỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1235/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/3/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Mai Thanh H; Sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Số 450/11 đường A, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G; Sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Số 450/11 đường B, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn anh Mai Thanh H trình bày:
Anh H và chị Nguyễn Thị G chung sống năm 2001 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 126/2001, quyển số 01, đăng ký ngày 07/12/2001.
Trong thời gian chung sống, từ năm 2009 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa anh H, chị G bất đồng quan điểm sống, bất đồng về suy nghĩ và cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống vợ chồng. Mặc dù đã nhiều lần tự hoà giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tiếng nói chung, không chia sẻ được các vấn đề trong cuộc sống gia đình, nên hiện nay cả hai đã không còn tình cảm. Do đó, năm 2021, anh H nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn chị G. Sau khi Toà án thụ lý đơn đã nhiều lần triệu tập chị G đến Toà án để giải quyết vụ việc nhưng chị G không đến Toà án theo giấy triệu tập. Theo động viên của Toà án, anh H đã rút đơn khởi kiện để có cơ hội hoà giải, hàn gắn hôn nhân giữa anh H và chị G nhưng vẫn không có kết quả. Vì vậy, anh H tiếp tục nộp đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân Quận 8 để yêu cầu:
Về hôn nhân: Đề nghị Toà án giải quyết cho anh Mai Thanh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị G.
Về con chung: Anh H trình bày giữa anh H và chị G có 02 con chung tên:
+ Mai Thị Mỹ U, sinh ngày 17/7/2002;
+ Mai Hồng L, sinh ngày 19/11/2007.
Đối với con chung Mỹ U đã thành niên nên anh H không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với con chung Hồng L, hiện đang sống chung với chị G nên anh H giao con chung Hồng L cho chị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Anh H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Bắt đầu thi hành ngay khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, lần lượt hàng tháng cho đến khi con chung thành niên. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về tài sản chung: Anh H tự xác định giữa anh H và chị G không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Anh H tự xác định giữa anh H và chị G không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị G đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử, Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Thanh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Chị G đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị G theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn – anh Mai Thanh H có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của anh Mai Thanh H thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn là chị Nguyễn Thị G có cư trú tại Quận 8, nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
Anh H và chị Nguyễn Thị G chung sống năm 2001 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 126/2001, quyển số 01, đăng ký ngày 07/12/2001, nên xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của anh H, anh H trình bày trong thời gian chung sống, bắt đầu từ năm 2009 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa anh H và chị G bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi. Dù đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cả hai đã không còn chung sống như vợ chồng từ nhiều năm. Năm 2021, anh H đã nộp đơn khởi kiện chị G để yêu cầu Toà án giải quyết cho anh H được ly hôn chị G nhưng sau đó đã rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện để tạo cơ hội gia đình hoà giải hàn gắn nhưng không có kết quả. Vì vậy, anh H tiếp tục khởi kiện để yêu cầu được ly hôn với chị G. Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của anh H là có căn cứ cần giải quyết.
Xét thấy, chị G đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng chị G vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiện chị G không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị G không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên yêu cầu ly hôn của anh H là có căn cứ cần chấp nhận vì phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.2] Về con chung: Anh H xác định giữa anh H và chị G có hai con chung tên:
+ Mai Thị Mỹ U, sinh ngày 17/7/2002;
+ Mai Hồng L, sinh ngày 19/11/2007.
Đối với con chung Mỹ U đã thành niên nên anh H không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với con chung Hồng L, hiện đang sống chung với chị G nên anh H giao con chung Hồng L cho chị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Hồng L mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Xét yêu cầu của anh H là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình mặt khác cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung và đảm bảo quyền lợi của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H, giao con chung Mai Hồng L cho chị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Do không thu thập được ý kiến của chị G về việc xác định yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận việc anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Mai Hồng L mỗi tháng 2.000.000 đồng. Việc cấp dưỡng được thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, lần lượt hàng tháng cho đến khi con chung Mai Hồng L thành niên. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Đối với con chung Mai Thị Mỹ U đã thành niên, anh H không có yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh H tự khai giữa anh H và chị G không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của chị G về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (Ly hôn) là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm (Cấp dưỡng) là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;
Áp dụng:
- Các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13;
- Các Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Thanh H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Thanh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị G;
2. Về nuôi con chung: Có hai con chung tên:
+ Mai Thị Mỹ U, sinh ngày 17/7/2002 (Đã thành niên);
+ Mai Hồng L, sinh ngày 19/11/2007.
Giao con chung Mai Hồng L cho chị Nguyễn Thị G tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Anh Mai Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung Mai Hồng L mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Bắt đầu thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, lần lượt hàng tháng cho đến khi con chung thành niên. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày chị G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đúng theo thỏa thuận nêu trên, thì anh H còn phải trả thêm cho chị G khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.
4. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm (Ly hôn) là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm (Cấp dưỡng) là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), anh Mai Thanh H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0017762 ngày 30/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh H còn phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS Q.8; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - VKSND Q.8; - TAND TP.HCM; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Duy Minh Chính |