- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 253/2022/HS-ST Ngày 08 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Tiến Lập
Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 240/2022/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn D, sinh năm 1961 tại thành phố Hà Nội; đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 21 Đ, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội ; Nơi cư trú hiện nay: 51H5 Tập thể N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: lớp 07/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị N (đã chết); vợ Nguyễn Thị Thu T, có 02 con lớn sinh năm 1990 nhỏ sinh năm 2004; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Năm 1979 đi tập trung cải tạo 03 năm về hành vi trộm cắp tài sản, năm 2005 Công an phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử lý hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Ngày 12/5/1984 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 30/09/1986 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 19/4/1994 Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao xử phúc thẩm xử phạt 12 năm tù về tội Cướp tài sản công dân; Ngày 26/06/2009 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 1
- Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Nguyễn T, sinh năm 1987; đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố 16, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú hiện nay: Số 4 ngách 232/18 phố D, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23h20′ ngày 07/8/2022, tại khu vực trước số nhà 71C N, phường P, quận H, TP. Hà Nội, Tổ công tác Công an phường P phát hiện Trần Văn D có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác thu giữ của D số tiền 9.810.000 đồng (Chín triệu tám trăm mười nghìn đồng). Tại chỗ, D khai nhận đây là số tiền D vừa trộm cắp được trong nhà số 71C N, phường P, quận H, TP. Hà Nội. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa D về trụ sở công an để điều tra làm rõ. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của D một thanh kim loại hình trụ, tròn, dài khoảng 60cm, một đầu tròn, một đầu dẹt.
Tại cơ quan công an, Trần Văn D khai nhận: Khoảng 22h00 ngày 07/8/2022, khi đang đi lang thang ở khu vực tập thể N, phường P, quận H, TP Hà Nội thì Trần Văn D nhặt được một thanh kim loại hình trụ, tròn, dài khoảng 60cm, một đầu tròn, một đầu dẹt tại vỉa hè (gần cột điện) khu vực nhà B2, tập thể N. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên D đã nảy sinh ý định dùng thanh kim loại vừa nhặt được phá khóa cửa nhà nào không có người ở nhà để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23h00′ cùng ngày, khi đến trước số nhà 71C N, phường P, quận H, TP. Hà Nội, thấy không có người trông giữ nên D đã dùng thanh kim loại chọc gãy mối hàn kim loại của khóa cửa cuốn để đột nhập vào trong nhà. Khi vào trong, D phát hiện bên trong căn nhà lắp camera nên D đã vặn đầu camera ra phía khác rồi dùng thanh kim loại cạy cong ngăn kéo tủ và lấy số tiền 9.810.000đồng (Chín triệu tám trăm mười nghìn đồng) được để bên trong ngăn kéo. Sau đó, D đi ra ngoài để tẩu thoát thì Tổ công tác Công an phường P kiểm tra, như trên. Lời khai của Trần Văn D phù hợp với các tài liệu bắt giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra, xác định số tiền 9.810.000đồng (Chín triệu tám trăm mười nghìn đồng) là của anh Nguyễn T, sinh năm: 1987, trú tại: Số 4 ngách 232/18 D, phường V, H, Hà Nội. Ngày 16/8/2022, Cơ quan điều tra đã trao trả số tiền trên cho anh T. Sau khi nhận lại tài sản, anh T không đề nghị gì và không yêu cầu gì về dân sự. Đối với thanh kim loại, quá trình điều tra xác định là do Trần Văn D nhặt được tại vỉa hè đầu nhà B2, tập thể N, phường P, quận H, TP Hà Nội. D đã sử dụng thanh kim loại trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Bản cáo trạng số 227/CT/VKSHBT ngày 18/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Văn D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung đã nêu trên là đúng; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 60cm, một đầu tròn, một đầu dẹt.
Bị cáo không tranh luận, sau đó nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 23 giờ 20 phút ngày 07/08/2022, tại khu vực trước số nhà 71C phố N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Bị cáo Trần Văn D đã có hành vi trộm cắp số tiền 9.810.000đồng (Chín triệu, tám trăm, mười nghìn đồng) của anh Nguyễn T. Do đó đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Nhân thân bị cáo có nhiều tiền án tiền sự mặc dù các tiền sự đã hết thời hiệu, các tiền án đã được xóa án tích nhưng để đánh giá về nhân thân xác định bị cáo có nhân thân xấu. Chính vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự; do vậy có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nhưng có phần nghiêm khắc, do vậy hội đồng xét xử cân nhắc đưa ra mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát.
Về dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 60cm, một đầu tròn, một đầu dẹt bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn D: 10( Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 07/8/2022.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 60cm, một đầu tròn, một đầu dẹt (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 16/23 ngày 20/10/2022).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hai Bà Trưng. - VKSND TP. Hà Nội - Công an Q. Hai Bà Trưng. - Bị cáo. - Lưu./. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Tiến |