vanban.org

Bản án 252/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K .

Về con chung: Giao 02 con chung tên Tạ Tường Vy, sinh ngày 23/03/2019 và Tạ Thiên An, sinh ngày 30/06/2020 cho anh Tạ Trung K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGuyễn Thị P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2026/HNGĐ-ST
Ngày 25-08-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒAÁN NHÂN DÂNKHUVỰC1-HẢIPHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thi Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Ông Phạm Thành Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Duyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 08 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số 301/2026/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 06 năm 2026 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 07 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 191/2026/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 2000; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố 5 (nay là Tổ dân phố Trúc Sơn), phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Tây (nay là Tổ dân phố Thuỷ Đường 6), phường Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Tạ Trung K, sinh năm 2001; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố 5 (nay là Tổ dân phố Trúc Sơn), phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 09 tháng 06 năm 2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương A trình bày:

Chị Nguyễn Thị Phương A kết hôn với anh Tạ Trung K, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nay là phường Lưu Kiếm thành phố Hải Phòng ngày 16/02/2022. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm, không thống nhất trong lao động làm ăn kinh tế nên vợ chồng xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng hiện đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn giữa chị và anh kiên đã được gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Nay chị Phương Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tạ Trung K. Chị Phương Anh và anh Kiên có 02 con chung tên Tạ Tường Vy, sinh ngày 23/03/2019 và Tạ Thiên An, sinh ngày 30/06/2020. Khi ly hôn chị Phương Anh đồng ý để anh Tạ Trung K được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung như hiện nay. Việc cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung do chị và anh Kiên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Tạ Trung K có nơi cư trú tại phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án anh Tạ Trung K không hợp tác. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho anh Tạ Trung K nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Tạ Trung K vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Phương A.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định và việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K. Giao 02 con chung tên Tạ Tường Vy, sinh ngày 23/03/2019 và Tạ Thiên An, sinh ngày 30/06/2020 cho anh Tạ Trung K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung do các đương sự tự thoả thuận. Chị Nguyễn Thị Phương A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao căn cước công dân, bản sao giấy khai sinh của con; Bản tự khai; Đơn đề nghị nguyện vọng của con chung; Biên bản xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Tạ Trung K có nơi cư trú tại phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Tạ Trung K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tạ Trung K.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nay là phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng vào ngày 16/02/2022 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo tài liệu xác minh tại địa phương và lời khai của các đương sự thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, cuộc sống chung vợ chồng không thống nhất, thường xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng chị Phương Anh và anh Kiên đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn chị Phương Anh và anh Kiên hiện đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh Kiên đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Kiên đều vắng mặt, thể hiện anh Kiên không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Phương Anh. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Phương A được ly hôn anh Tạ Trung K.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K có 02 con chung tên Tạ Tường Vy, sinh ngày 23/03/2019 và Tạ Thiên An, sinh ngày 30/06/2020. Khi ly hôn chị Phương anh đề nghị Toà án giao 02 con chung cho anh Kiên trực tiếp nuôi dưỡng. Xét anh Kiên hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Con chung trên 7 tuổi có nguyện vọng ở với bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho anh Tạ Trung K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với các quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác, chưa có lời khai của anh Tạ Trung K nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chị Nguyễn Thị Phương A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K .

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Tạ Tường Vy, sinh ngày 23/03/2019 và Tạ Thiên An, sinh ngày 30/06/2020 cho anh Tạ Trung K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Phương A và anh Tạ Trung K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007622 ngày 18 tháng 6 năm 2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Phương A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phương A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tạ Trung K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ