vanban.org

Bản án 252/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy L.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy L được ly hôn với anh Nguyễn Đức Q. Giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 15/3/2012 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp cho chị L và anh Q không còn giá trị pháp lý khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thuỳ L - Nguyễn Đức Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 252/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 6 - 2023
V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình
- Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức

2. Ông Nguyễn Đình Phùng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, về tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy L, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.

(chị L và anh Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 20/02/2023 bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Trần Thị Thúy L trình bày:

Hôn nhân của chị và anh Q qua thời gian tìm hiểu, được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, chị và anh Q chung sống với nhau cho đến năm 2012 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 15/3/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do anh Q thường xuyên uống rượu, không chăm lo gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không thể chung sống với nhau được nữa nên đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Đức Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung tên Nguyễn Đức H sinh ngày 14/10/2004 (đã trrưởng thành) và Nguyễn Đức P, sinh ngày 19/11/2007, hiện do chị L chăm sóc nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Nguyễn Đức Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị L và anh Q được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được và chị L yêu cầu ly hôn với anh Q nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: chị L và anh Q có 02 con chung, hiện do chị L chăm sóc nuôi dưỡng, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi Nguyễn Đức P, sinh ngày 19/11/2007; không yêu cầu anh Q cấp dưỡng; riêng Nguyễn Đức H sinh ngày 14/10/2004 đã trưởng thành, tự lập được nên không yêu cầu xem xét, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Đức Q là bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2012 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng chính thức ly thân từ năm 2014 đến nay, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh chị mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này phù hợp với xác nhận của chính quyền địa phương nơi chị L và anh Q cư trú; do đó, chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: anh, chị có 02 con chung tên Nguyễn Đức H sinh ngày 14/10/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Đức P, sinh ngày 19/11/2007, hiện do chị L chăm sóc nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Xét, từ khi ly thân đến nay cháu P do chị L trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được, anh Q không phải cấp dưỡng cho con. Chị L phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Q đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Riêng con chung tên Nguyễn Đức H sinh ngày 14/10/2004 đã trưởng thành, tự lập được, không yêu cầu nên không xem xét.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, chị L không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì anh Q có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị L và anh Q phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh Q không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy L.

1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy L được ly hôn với anh Nguyễn Đức Q.

Giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 15/3/2012 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp cho chị L và anh Q không còn giá trị pháp lý khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thúy L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đức P, sinh ngày 19/11/2007 đến thành niên hoặc tự lập được; Anh Q không phải cấp dưỡng cho con.

Chị L phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Q đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Riêng con chung tên Nguyễn Đức H sinh ngày 14/10/2004 đã trưởng thành, tự lập được, không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thúy L phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005950 ngày 01/3/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Anh Q không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ