- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Bùi Văn C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyện LT và UBND huyện LT"
- Tòa quyết gì? số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 82 Luật Đất đai
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 252/2023/HC-PT Ngày: 19/4/2023 “V/v yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường và quyết định giải quyết khiếu nại”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường;
Ông Nguyễn Mạnh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân
dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hành chính thụ lý số 381/2022/TLPT-HC ngày 20 tháng 9 năm 2022 do có kháng cáo của người khởi kiện, đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2022/HC-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, về việc "yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường và quyết định giải quyết khiếu nại".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2871/2023/QĐ-PT
ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiê ̣n: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Th, xã
M, huyê ̣n LT, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
2. Người bi ̣ kiê ̣n: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyê ̣n LT và UBND
huyê ̣n LT.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn H - Phó Chủ tịch UBND huyê ̣n LT,
tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghia vụ liên quan:
̃
- UBND xa M, huyê ̣̃
n LT;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ – Chủ tịch UBND xa M;̃
Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- UBND xa T, huyê ̣̃
n LT;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H – Chủ tịch UBND xa T; Vắng̃
mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Bà Pha ̣m Thi ̣ L, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Th, xa M, huyê ̣̃
n LT, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Liễu: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1966;
địa chỉ: Thôn Th, xa M, huyê ̣̃
n LT, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Người đại diện của thôn TL, xa T, huyê ̣̃
n LT, tỉnh Bắc Ninh là ông Ngô Văn K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo người khởi kiện trình bày: Từ năm 2007 đến năm 2009, do nhu cầu
kinh phí để xây dựng nhà văn hoá và làm đường bê tông, được sự nhất trí chỉ đạo của Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND xa T, Ban lãnh đạo thôn TL đã thông̃ báo việc chuyển nhượng một số diện tích đất tại khu vườn Dõng Đồng Đáy của thôn và vận động người dân mua đất nông nghiệp với cam kết sẽ hoàn thiện đầy đủ giấy tờ sử dụng lâu dài cho người mua với giá chuyển nhượng đất thuỷ sản lâu dài cho người mua với giá là 7.000.000 đồng/sào và thu tiền làm giấy tờ cho người mua sử dụng lâu dài là 300.000 đồng/sào.
Ông Bùi Văn C đã mua 2.055m2 đất canh tác phía Đông dài 78,8m giáp nhà
ông Pha ̣m Văn B; phía Tây dài 71,7m giáp nhà ông Bùi Xuân T; phía Nam dài 25m giáp mương nước; phía Bắc dài 30m giáp đường theo Biên bản chuyển nhượng đất nuôi trồng thủy sản lâu dài ngày 30/12/2009. Hiện nay là thửa số 153, tờ đồ số 3, diện tích 2.071,8m². Gia đình ông C đã sử dụng đất ổn định lâu năm, không tranh chấp, hàng năm có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đầy đủ từ thời điểm nhận chuyển nhượng đất đến hiện tại.
Tại Quyết định số 2725/QĐ-UBND ngày 02/11/2020 của UBND huyê ̣n LT
về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng cải tạo, nâng cấp đường TL284 đoạn thi ̣ trấn T đi VT, huyê ̣n LT, diện tích đất bị thu hồi của ông C là 411.2m². Tuy nhiên, Quyết định số 2725/QĐ-UBND lại xác định diện tích bị thu hồi của gia đình ông C là “đất công ích”, sử dụng theo hình thức “tạm giao” và có nội dung ghi chú là “mua đất của thôn (7 triệu/sào có hợp đồng chuyển nhượng giữa thôn với các hộ trước năm 01/7/2014) bồi thường hỗ trợ cho hộ gia đình 30% giá đất”, ông C không đồng ý với nội dung Quyết định số 2725/QĐ-UBND nêu trên.
Ngày 23/8/2021, Chủ tịch UBND huyê ̣n LT ban hành Quyết định số
1375/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu. Theo đó, nội dung khiếu nại mà ông C đã đưa ra không được chấp nhận, diện tích đất bị thu hồi mà gia đình ông C đang sử dụng vẫn được xác định là đất công ích. Trong khi đó, diện tích đất ông C đang sử dụng có nguồn gốc mua của thôn TL, xa T, huyê ̣̃
n LT, tỉnh Bắc Ninh (có văn bản chuyển nhượng viết tay) từ năm 2008-2009 và đã sử dụng ốn định, lâu dài, không tranh chấp từ khi nhận chuyển nhượng đến nay.
Ông C đồng ý với chủ trương chính sách thu hồi đất của Nhà nước; tuy
nhiên, ông C không đồng ý với phương án bồi thường được phê duyệt theo giá đất tạm giao. Ông C mua đất với giá đất lâu dài, sau khi mua đất đã bỏ công sức tân tạo nên ông C đề nghị phải bồi thường cho ông C theo giá đất giao lâu dài. Đối với diện tích còn lại chưa thu hồi ông C đề nghị chính quyền hợp thức hóa cho ông C quyền sử dụng hợp pháp là đất lâu dài để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho ông C.
Ông Bùi Văn Cảnh đề nghị Tòa án giải quyết:
1. Hủy một phần Quyết định số 2725/QĐ-UBND ngày 02/11/2020 của
UBND huyê ̣n LT về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng cải tạo, nâng cấp đường TL284 đoạn thi ̣ trấn T đi VT, huyê ̣n LT đối với ông Bùi Văn C.
2. Hủy Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Chủ tịch
UBND huyê ̣n LT về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với ông Bùi Văn C.
3. Xác định diện tích đất 2.071,8 m2 gia đình ông C đang sử dụng thuộc
quyền sử dụng hợp pháp, được nhà nước giao đất sử dụng lâu dài.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày:
- Về việc lập hồ sơ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ: Đối với công tác lập hồ
sơ thu hồi đất bồi thường, hỗ trợ GPMB Dự án, Phòng Tài nguyên và Môi trường (Cơ quan thường trực của Hội đồng bồi thường GPMB) đã thực hiện các bước quy trình đảm bảo đúng quy định của luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trong quá trình thực hiện chi trả tiền bồi thường, đến nay còn 06 hộ chưa
nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, trong đó có hộ ông Bùi Văn C, thường trú thôn Th, xã M: Thửa số 153, tờ bản đồ địa chính số 26 xa M, diện tích 2.071,8 m2 do hộ̃ gia đình ông C đang sử dụng, loại đất: đất chuyên trồng lúa nước (LUC), diện tích đất cần thu hồi để thực hiện Dự án là 411,2 m2, hình thức sử dụng là đất tạm giao. Kinh phí được bồi thường, hỗ trợ 12.336.000 đồng. Riêng phần kinh phí bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất, hộ ông C đã nhận tiền bồi thường với số tiền là 30.546.600 đồng.
- Về việc giải quyết đơn của 06 hộ gia đình, cá nhân: Trong thời gian công
khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, Hội đồng bồi thường GPMB Dự án nhận được đơn đề nghị của 06 hộ gia đình, cá nhân gồm: Vũ Văn H, Pha ̣m Văn Tr, Bùi Văn C, Bùi Xuân T, Trần Văn T và Pha ̣m Văn B (Tống Đứ c H) đề nghị xem xét lập phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là đất nông nghiệp giao ổn định, lâu dài.
Ngày 23/8/2021, Chủ tịch UBND huyê ̣n LT ban hành Quyết định số
1375/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của 06 công dân trên; có nội dung: “Không chấp nhận nội dung khiếu nại của các công dân, vì các công dân không cung cấp được bằng chứng, chứng cứ có liên quan để xác định diện tích đất công dân đang khiếu nại là đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao ổn định, lâu dài để được bồi thường, hỗ trợ theo loại đất giao ổn định, lâu dài như đơn khiếu nại của công dân. Do vậy, nội dung khiếu nại của 06 công dân Vũ Văn H, Phạm Văn Tr thôn TL, xã T; Bù i Văn C, Bù i Xuân T, thôn Th, xã M; Trần Văn T, Phạm Văn B, thôn HT, xã M là không có cơ sở pháp lý”.
- Về nguồn gốc các thửa đất mà các hộ gia đình, cá nhân: Thửa số 153, tờ
bản đồ địa chính số 26 xa M, diện tích 2.071,8 m2 do hộ gia đình ông C đang sử̃ dụng, loại đất chuyên trồng lúa nước (LUC), diện tích đất thu hồi để thực hiện Dự án là 411,2 m2.
Về diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình ông C được giao theo định suất
năm 1993, 2016: Năm 1993, hộ ông C, được Nhà nước giao 03 định suất với tổng diện tích đất nông nghiệp được giao là 1.384,0m2. Ngày 01/7/2016, hộ ông C nhận thừa kế 1.128,0m2 đất nông nghiệp của hộ cụ Bùi Văn Đ và cụ Nguyễn Thi ̣ Th (là bố, mẹ của ông C) theo Biên bản họp gia đình ngày 01/7/2016. Như vậy, tổng diện tích đất nông nghiệp sau khi hộ ông C nhận thừa kế là 2.512,0m2.
Năm 2016, theo Quyết định số 1206/QĐ-UBND ngày 24/8/2016 của UBND
huyê ̣n LT về việc phê duyệt phương án dồn điền đổi thửa thôn Th, xa M; hộ ông̃ C được giao 10 thửa đất với tổng diện tích đất nông nghiệp là 2.949,6 m2. Như vậy, tổng diện tích đất nông nghiệp của hộ ông C được giao năm 2016 nhiều hơn diện tích đất nông nghiệp được giao năm 1993 là 437,6 m2. Hộ gia đình ông C không có ý kiến, kiến nghị, phản ánh về kết quả dồn điền đổi thửa đã được UBND huyê ̣n LT phê duyệt năm 2016, hiện đang canh tác, sử dụng thửa đất này.
Ngày 22/8/2016, hộ ông C làm đơn đề nghị cấp đổi GCNQSD đất đối với 07
thửa đất với tổng diện tích là 2.479,2m2; 03 thửa đất mà hộ ông C đề nghị chưa cấp đổi GCNQSD đất với tổng diện tích là 470,4 m2; lý do hộ ông C chưa đề nghị cấp đổi GCNQSD đất là do chưa hoàn thiện, bổ sung thủ tục tặng cho, thừa kế theo Đơn đề nghị ngày 22/8/2016.
Căn cứ pháp lý lập hồ sơ thu hồi đất, bồi thường, GPMB: Căn cứ vào Nghị
định số 64-CP ngày 27/9/1993, UBND huyê ̣n LT đã giao đất nông nghiệp theo định suất cho các hộ gia đình, cá nhân theo quy định.
Đối chiếu giữa Hồ sơ địa chính năm 1993, 1999 (Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, Sổ địa chính) và Hồ sơ địa chính năm 2016, Phương án dồn điền đổi thửa được UBND huyê ̣n LT phê duyệt năm 2016 cho thấy, diện tích đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân có sự tương đồng.
Trong quá trình rà soát, thu thập hồ sơ, giấy tờ sử dụng đất của các hộ gia
đình cung cấp cho thấy: Toàn bộ các thửa đất mà các công dân có Đơn được cơ sở thôn TL, xa T giao trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2009 với giá chuyểñ nhượng bình quân là 7.000.000 đồng/sào, lệ phí chuyển dịch là 300.000 đồng/sào với thời hạn là lâu dài để nuôi trồng thủy sản. Việc cơ sở thôn TL, xa T giao đất̃ cho các hộ gia đình, cá nhân là không đúng thẩm quyền, không đúng thời hạn.
UBND huyê ̣n LT ban hành Văn bản số 781/UBND-TNMT ngày 01/9/2020
về việc đồng ý cho phép bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất để thực hiện Dự án; có nội dung: “3. Đồng ý các thửa đất thôn TL bán cho các hộ gia đình (có biên bản viết tay giữa hộ và lãnh đạo thôn TL) năm 2008, 2009 của các hộ: Bù i Văn C, Bù i Xuân T, Tống Đứ c H, Phạm Văn Tr, Trần Văn T, Vũ Văn H cho phép bồi thường, hỗ trợ là đất nông nghiệp công ích. Đối với các trường hợp khác thôn bán sau ngày 01/7/2014 không bồi thường, hỗ trợ cho các hộ.”
Căn cứ vào Điều 82; khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013 và điểm d
khoản 1 Điều 25 Quyết định số 528/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 (tương ứng với điểm c khoản 1 Điều 21 Quyết định số 19/2020/QĐ-UBND ngày 30/12/2020) của UBND tỉnh Bắc Ninh, việc UBND huyê ̣n LT quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 06 hộ gia đình cá nhân trên là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do UBND xa M quản lý là đúng quỹ định nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện UBND xã T trình bày: Việc bán đất đều do thôn ra nghị quyết chi
bộ để chuyển đổi, bán cho nhân dân. Thời điểm đó UBND xã chưa có chỉ đạo, chưa ban hành nghị quyết nào để cho thôn thực hiện chủ trương đó. Hiện nay khu đất thu hồi này thuộc địa giới hành chính của xa M. UBND xã
T đồng quañ điểm với quan điểm của UBND huyê ̣n LT. Đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện UBND xã M trình bày: toàn bộ diện tích đất nông nghiệp mà thôn
TL, xã T bán trái thẩm quyền nằm trên địa giới hành chính xa M; tuy nhiên, lạĩ thuộc quyền quản lý của xa T (đất xâm canh). Vì vậy, vào thời điểm năm 2007 -̃ 2009 việc thôn TL bán cho các hộ dân không liên quan gì đến thẩm quyền giải quyết của xã M. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện thôn TL trình bày: Diện tích đất nông nghiệp của hộ ông C đang
có đơn khởi kiện có nguồn gốc trước đây là thùng vũng, vườn, dõng do chính quyền thôn TL bán cho các hộ dân từ thời kỳ năm 2007-2009 để lấy kinh phí xây dựng nhà văn hóa, làm đường phục vụ cho nhu cầu của nhân dân. Đến nay các hộ gia đình vẫn đang sử dụng đất mua nêu trên và chưa được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất này. Quá trình sử dụng diện tích đất nông nghiệp này, thôn TL có thu khoán của các hộ gia đình theo quy định của địa phương, đối với thuế thì đất nông nghiệp được miễn. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2022/HC-ST ngày 30/6/2022 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã căn cứ vào Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật đất đai 2013; Điều 18, Điều 29, Điều 30, Điều 31 Luật khiếu nại 2011; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn C gồm:
- Bác yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2725/QĐ-UBND ngày
02/11/2020 của UBND huyê ̣n LT về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng cải tạo, nâng cấp đường TL284 đoạn thi ̣ trấn T đi VT, huyê ̣n LT đối với ông Bùi Văn C.
- Bác yêu cầu hủy Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Chủ
tịch UBND huyê ̣n LT về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với ông Bùi Văn C.
- Bác yêu cầu xác định diện tích đất 2071,8m2 gia đình ông C đang sử dụng
thuộc quyền sử dụng hợp pháp, được nhà nước giao đất sử dụng lâu dài.
Ngày 06/7/2022, người khởi kiện là ông Bùi Văn C có đơn kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà
Nội nêu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính xử bác yêu cầu kháng cáo của ông Bùi Văn C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Về tố tụng: Ngày 15/9/2021, ông Bùi Văn C có đơn khởi kiện đề nghị
hủy một phần Quyết định số 2725/QĐ-UBND ngày 02/11/2020 của UBND huyê ̣n LT và hủy Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Chủ tịch UBND huyê ̣n LT; xác định diện tích đất hộ gia đình ông C đang sử dụng thuộc quyền sử dụng hợp pháp, được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Ông Bù i Văn C, người bị kiện và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 4 Điều 225 Luật tố tụng hành chính.
Xét tính hợp pháp của Quyết định số 2725/QĐ-UBND:
Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 2725/QĐ-UBND: UBND huyê ̣n
LT ban hành Quyết định số 2725/QĐ-UBND thu hồi đất là đúng theo quy định khoản 2 Điều 66 Luật đất đai và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 2725/QĐ-UBND: UBND
huyê ̣n LT ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB là đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Về nội dung: Trong khoảng thời gian từ năm 2007-2009, hộ gia đình
ông C có mua của thôn TL, xã T, huyê ̣n LT diện tích đất 2.071,8m2 với giá 7.000.000đ/sào và 300.000đ/sào, hình thức sử dụng đất tạm giao. Nguồn gốc thửa đất là đất thùng vũng (được xác định là đất công ích), khi mua bán chỉ có làm giấy tờ mua bán (biên bản chuyển nhượng đất nuôi trồng thủy sản lâu dài), ký nhận giữa Trưởng thôn và người mua, ông C đã nộp tiền đầy đủ cho thôn. Hộ ông C đã bị thu hồi 411,2m2 để làm dự án; theo quy định tại khoản 5 Điều 67 Luật Đất đai 2003 thì UBND xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn...Thời hạn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã không quá 05 năm. Như vậy, thôn TL, xa T giao đất cho các hộ (bán) là không đúng̃ thẩm quyền, không đúng thời hạn. Căn cứ Điều 82 Luật Đất đai 2013 quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất. Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi bao gồm đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích xã, phường, thị trấn. Trên cơ sở Quyết định số 528/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện trình tự thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; bồi thường hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Ngày 24/8/2020, Hội đồng giải phóng mặt bằng huyê ̣n LT có văn bản đề nghị UBND huyê ̣n LT xem xét và lập phương án bồi thường hỗ trợ cho gia đình, cá nhân có đất được giao không đúng thẩm quyền. Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất giai đoạn 2 (đợt 2) cụ thể về cơ cấu diện tích thu hồi; diện tích đất bồi thường, hỗ trợ 7.613m2; đơn giá bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp giao ổn định lâu dài, đất nông nghiệp do UBND xã quản lý (đất công ích) và đất ở (ONT) tại các vị trí thu hồi dự án theo Quyết định số 714/QĐ-UBND và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất giai đoạn 1 (đợt 2). Trong đó hộ ông C hiện nay là thửa số 153, tờ đồ số 3, diện tích 2.071,8 m² diện tích thu hồi 411,2m2 (diện tích đất công ích; hình thức sử dụng đất tạm giao). Do là đất công ích, hình thức sử dụng tạm giao nên hộ ông C được bồi thường chi phí đầu tư vào đất cho người đang sử dụng đất 30% giá đất (30% x70.000đ/m2) = 21.000đ/m2. Hộ ông C bị thu hồi 411,2m2 nên số tiền bồi thường hộ ông C nhận được là 411,2 m2 x 21.000 đ/m2 = 8.635.200 đồng; bồi thường về hoa màu trên đất 9.000đ/m2 = 3.700.800đ (ông C không có ý kiến gì về bồi thường hoa màu trên đất). Tổng số tiền gia đình ông C được hỗ trợ là 12.336.000đ là đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, Quyết định thu hồi đất số 2725/QĐ-UBND và Quyết định phê
duyệt phương án bồi thường đối với diện tích đất 411,2 m2 đối với hộ ông C là có căn cứ.
. Xét tính hợp pháp Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của
Chủ tịch UBND huyê ̣n LT.
. Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 1375/QĐ-UBND: Chủ tịch
UBND huyê ̣n LT ban hành Quyết định số 1375/QĐ-UBND đúng theo quy định tại khoản 8 Điều 29 của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011.
. Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 1375/QĐ-UBND: Ngày
23/12/2020, ông C cùng 05 hộ dân khiếu nại Quyết định số 2725/QĐ-UBND. Ngày 09/6/2021, Chủ tịch UBND huyê ̣n LT ban hành Quyết định số 1005/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại. Ngày 29/7/2021, đoàn xác minh đã có báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại đối với Quyết định số 2725/QĐ-UBND. Ngày 23/8/2021, Chủ tịch UBND huyê ̣n LT ban hành Quyết định số 1375/QĐ- UBND giải quyết khiếu nại lần đầu. Như vậy, Quyết định số 1375/QĐ-UBND được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 29, Điều 30, Điều 31 Luật Khiếu nại 2011.
. Về nội dung: Theo như phân tích tại mục [2] thôn TL, xa T thực hiệñ
việc chuyển nhượng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân thời điểm 2007-2010, thời hạn lâu dài là trái thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 và thời hạn quy định tại khoản 5 Điều 67 Luật Đất đai năm 2003. UBND huyê ̣n LT ban hành Quyết định số 2725/QĐ-UBND thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình ông C để thực hiện Dự án là đúng quy định của pháp luật. Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 1375/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Chủ tịch UBND huyê ̣n LT ban hành đã không chấp nhận nội dung khiếu nại của các công dân và giữ nguyên các nội dung Quyết định số 2725/QĐ-UBND là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện xác định diện tích đất
2.071,8m2 gia đình ông C đang sử dụng thuộc quyền sử dụng hợp pháp, được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài là đúng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông C đề
nghị hủy một phần Quyết định số 2725/QĐ-UBND ngày 02/11/2020 của UBND huyê ̣n LT; hủy Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 23/8/2021 của Chủ tịch UBND huyê ̣n LT và yêu cầu xác định diện tích đất 2.071,8m2 gia đình ông C đang sử dụng thuộc quyền sử dụng hợp pháp, được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài là đúng. Tại cấp phúc thẩm ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông C; chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
Về án phí: Ông Bùi Văn C phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo
quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn C đối với Bản án hành
chính sơ thẩm số 07/2022/HC-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Về án phí: Ông Bùi Văn C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành
chính phúc thẩm được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2021/0000199 ngày 18/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HCTP, HSVA. C¸c thÈm ph¸n Nguyễn Văn Cường Nguyễn Mạnh Tiến | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thúy Bình ThÈm ph¸n - chñ tỌA phiªn tßa Lê Thị Thúy Bình |