vanban.org

Bản án 252/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/11/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Phan Thị H.

Về nuôi con chung: 1. Giao cháu Phạm Anh Nhật sinh ngày 03/4/2018 cho chị Phan Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Phan Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2022/HNGĐ-ST
Ngày 14 - 11 - 2022
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Mai Khanh

Ông Hồ Bá Võ

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 234/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H. Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1995. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Xóm 8, xã V, huyện V, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ cư trú hiện nay: 10243 Berlin Friedrichshain –Kreuzberg Strabe der Pariser Kommune 18/13 OG (Cộng hòa Liên bang Đức). Đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Phan Thị H . Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1996. Địa chỉ cư trú: Xóm 8, xã V, huyện V, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/8/2022, lời khai anh Phạm Văn H trình bày: Anh H và chị Phan Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 5 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2018, anh H xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đức lao động thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng xa cách nhau, bất đồng quan điểm sống thiếu quan tâm, chia sẻ, nên mâu thuẫn kéo dài. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H yêu cầu ly hôn chị Phan Thị H.

- Về con chung: Anh H và chị Phan Thị H có một con chung Phạm Anh Nhật sinh ngày 03/4/2018, hiện cháu đang do chị H nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, do điều kiện đang ở nước ngoài, nên anh H đề nghị giao cháu cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Anh H tự nguyện cấp dưỡng, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Phạm Văn H hiện đang ở nước ngoài, sau khi gửi đơn khởi kiện và trình bày quan điểm, nH vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia giải quyết vụ án được, nên anh H đề nghị Toà án giải quyết và xử vắng mặt và ủy quyền cho ông Phạm Văn Tương giao nhận các văn bản của Tòa án.

Tại Bản tự khai ngày 28 tháng 10 năm 2022 chị Phan Thị H trình bày: Chị H thừa nhận, điều kiện, thời gian đăng ký kết hôn, mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh H đã trình bày. Nay anh Phạm Văn H yêu cầu ly hôn, chị H chấp nhận, đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phạm Anh Nhật sinh ngày 03/4/2018, hiện cháu đang do chị H nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng.

- Tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn H hiện đang ở nước ngoài, sau khi gửi đơn khởi kiện; trình bày quan điểm, nH vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án được, nên anh H đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt (Có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức). Đối với chị Phan Thị H đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không thể hoà giải được và Toà án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt, nH anh Phạm Văn H vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn chị Phan Thị H và giải quyết các nội dung liên quan. Xét thấy, anh Phạm Văn H và chị Phan Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2018, anh H xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đức lao động thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng xa cách nhau, bất đồng quan điểm sống, thiếu quan tâm, chia sẻ, nên mâu thuẫn kéo dài, không quan tâm đến gì nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay cả chị H và anh H đều xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho ly hôn.

[3] Về nuôi con chung: Anh H và chị H có một con chung Phạm Anh Nhật sinh ngày 03/4/2018, hiện đang do chị H nuôi dưỡng. Anh H đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, hơn nữa anh H và chị H đều thống nhất giao con cho chị H nuôi dưỡng, nên cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng: Chị H là người được giao nuôi dưỡng con chung nH chưa yêu cầu, nên Tòa án chưa xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị H và anh H đều thống nhất không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí: Anh Phạm Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Phan Thị H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao cháu Phạm Anh Nhật sinh ngày 03/4/2018 cho chị Phan Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh H chưa yêu cầu, nên Tòa án chưa xem xét. Anh Phạm Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản và nợ: Chị Phan Thị H và anh Phạm Văn H ®Òu thống nhất, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Anh Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nH được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012173 ngày 07/10/2022 (Ông Phạm Văn Tương nộp thay).

5. Về quyền kháng cáo:

5.1. Chị Phan Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.

5.2. Anh Phạm Văn H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ