- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hiền Anh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Hiền A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND QUẬN Đ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 252/2019/ HS-ST Ngày: 17/09/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thảo Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị M
Và bà Ngô Thị Kim V- Giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Kiến T - Kiểm sát viên.
Hôm nay, hồi 09 giờ 00 phút ngày 17 tháng 09 năm 2019 tại Toà án nhân dân quận Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 273/2019/TLST- HS ngày 03 tháng 09năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 09 năm 2019 đối với bị cáo: NGUYỄN HIỀN A; Sinh ngày 11/09/2001 tại Hà Nội; HKTT và trú tại: P107, C4, Tập thể T, phường TT, quận Đ, Hà Nội; Nghề Nghiệp: không; trình độ văn hoá 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Trí T và bà Nguyễn Thu H; tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 465 lập ngày 06/06/2019 tại Công an quận Đ, Hà Nội; Bị cáo đầu thú ngày 30/03/2019 hiện tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Nguyễn Thu H (mẹ đẻ của bị cáo); Sinh năm 1968; HKTT và trú tại: P107, C4, Tập thể T, phường TT, quận Đ, Hà Nội (Có mặt). Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị Thủy S - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước Thành phố Hà Nội (có mặt). Bị hại: Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 2003, HKTT: số 34, ngõ 30 LĐC, phường P, quận Đ, Hà Nội (Vắng mặt). Người đại diện theo pháp luật của anh M: Bà Hoa Diệp A1, sinh năm 1973; HKTT: số 34, ngõ 30 LĐC, phường P, quận Đ, Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/3/2019, Nguyễn Hiền A đến nhà anh Nguyễn Quang M chơi. Sau khi lên tầng 2 để đi vệ sinh, Hiền A đi qua phòng thấy anh M đang ngủ và có 01 chiếc điện thoại di đọng Iphone 7 plus màu đen đang được cắm sạc trên đầu giường nên Hiền A đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Hiền A đi vào trong phòng trộm cắp chiếc điện thoại trên rồi cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái của mình và đi xuống tầng một để đi về. Sau đó, Hiền A đem chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra khu vực đầu phố H, quận HBT, Hà Nội bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 450.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Quang M phát hiện chiếc điện thoại của mình đã bị mất nên đã đến công an phường P trình báo. Khoảng 23 giờ 00 ngày 30/3/2019, Hiền A đã đến Công an phường P để đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của bản thân.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hiền A khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Kết luận định giá tài sản số 144 ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản quận Đ kết luận: Trị giá điện thoại Iphone 7 plus 32Gb: 6.000.000 đồng, ốp lưng điện thoại cũ trị giá không đồng.
Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ đã tiến hành rà soát tại khu vực chợ T, phố H, HBT, Hà Nội. Tuy nhiên cơ quan CSĐT không xác định được người đàn ông đã mua chiếc điện thoại di động nêu trên và không thu hồi được tài sản bị mất của anh Nguyễn Quang M. Nguyễn Hiền A đã bồi thường cho anh M số tiền 5.000.000 đồng. Anh M đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Anh M có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hiền A.
Tại bản cáo trạng số 271/CT-VKS ngày 23/08/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận Đ truy tố Nguyễn Hiền A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội khi đang vị thành niên, suy nghĩ hành động chưa được chín chắn, bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ: khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36; điều 100 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hiền A từ 08 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường TT quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biªn b¶n t¹m gi÷ ®å vËt tµi liÖu; Bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/3/2019, tại số 34 ngõ 30 LĐC, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hiền A đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen của anh Nguyễn Quang M (sinh năm 2003; ĐKHKTT: số 34 ngõ 30 LĐC, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội), tài sản trị giá 6.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hiền A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự;
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: không.
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, tài sản đã được bồi thường cho người bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo khi phạm tội là vị thành niên, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về những vấn đề khác: Căn cứ điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Những người bị hại đã nhận bồi thường tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không xét. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Từ lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Hiền A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: khoản 1 điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36; điều 90; điều 91; điều 100 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hiền A 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo về Uû ban nh©n d©n phường TT, quận Đ, Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Uû ban nh©n d©n phường TT, quận Đ, Hà Nội được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Căn cứ điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội.; - VKSND TP Hà nội; - VKSND quận Đ; - Công an quận Đ; - THADS quận Đ; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Phương Thảo |