vanban.org

Bản án 252/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 313 Bộ luật Tố t ng dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2019/DS-PT
Ngày 04-11-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Văn Minh

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Chum

Ông Nguyễn Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cảnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đ i di n Vi n i m t nh n d n t nh B nh Dư ng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – i m sát iên.

Trong các ngày 29 tháng 10 và 04 tháng 11 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, t ph c thẩm công khai án dân s th lý số 230/2019/TLPT-DS ngày 29 tháng 7 năm 2019 ề iệc tranh chấp hợp đồng ay tài sản.

Do Bản án số 20/2019/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa án ra t ph c thẩm số 248/2019/QĐPT-DS ngày 03 tháng 9 năm 2019, giữa các đương s :

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1974; địa chỉ: Đội 1, ấp 3, ã Đồng T, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Dương D, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 468/26/19A đường Nguyễn , Phường X, quận Ph Nh, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 07/8/2018), có mặt.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng D1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số 65, đường D4, khu dân cư Phú H 1, phường Phú H, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương, có mặt khi t , ắng mặt khi tuyên án.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Hải A, sinh năm 1970; địa chỉ: Số 65, đường D4, khu dân cư Phú H 1, phường Phú H, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương, có mặt khi t , ắng mặt khi tuyên án.

3.2. Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 141/33, đường Võ Minh Đức, phường Ph Thọ, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương, ắng mặt.

- Người háng cáo: Bị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 à người có quyền lợi, nghĩa liên quan ông Nguyễn Hải A.

NỘI D NG V ÁN:

- Tại Đơn hởi iện đề ngày 04/6/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Từ quan hệ ạn è, bà D nhiều lần cho bà D1 ay tiền, c th như sau:

- Ngày 20/11/2017 bà D1 ay 700.000.000 đồng, thời hạn ay 02 năm;

- Ngày 09/12/2017 bà D1 ay thêm 150.000.000, thời hạn ay 02 tháng. Việc ay này bà D1 iết à ký 02 giấy mượn tiền, trong đó không th hiện lãi suất ay, nhưng hai ên có thỏa thuận miệng lãi suất 3%/tháng; ay không thế chấp tài sản. Bà D1 không trả tiền lãi à tiền gốc đ ng như thỏa thuận. Ngày 26/5/2018, bà D đến nhà bà D1 yêu cầu trả tiền, nhưng bà D1 cố tình n tránh. Vì ậy, bà D kh i kiện yêu cầu bà D1 thanh toán số tiền nợ gốc 850.000.000 đồng à tiền lãi chậm thanh toán, c th như sau:

+ Đối ới khoản ay 700.000.000 đồng, ngày 20/11/2017, tính đến ngày 20/11/2018 là 11 tháng, lãi suất 10%/năm, tương ứng số tiền 64.166.666 đồng.

+ Đối ới khoản ay 150.000.000 đồng ngày 09/12/2017, tính đến ngày 09/12/2018 là 11 tháng, lãi suất 10%/năm, tương ứng số tiền 13.750.000 đồng. Tổng số tiền bà D yêu cầu bà D1 thanh toán là 927.916.666 đồng.

- Tại Bản tự hai ngày 12/9/2018 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 trình bày:

Vào khoảng thời gian từ năm 2015 đến tháng 09/2017, bà D1 có ay tiền của bà D nhiều lần, cộng dồn lại là 1.100.000.000 đồng. Đến ngày 01/11/2017, bà D1 chuy n trả cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng qua số tài khoản 101004947027 của bà D tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương - Chi nhánh Bình Phước, còn nợ lại số tiền 100.000.000 đồng. Bà D hứa sau khi bà D1 chuy n trả 1.000.000.000 đồng, bà D cho bà D1 ay lại số tiền 600.000.000 đồng, cộng ới số tiền 100.000.000 đồng còn nợ là 700.000.000 đồng. Ngày 17/11/2017, bà D chuy n cho bà D1 300.000.000 đồng qua số tài khoản 133576749 của bà D1 tại Ngân hàng TMCP Á Châu - Chi nhánh Bình Dương. Mặc dù chưa nhận đủ 700.000.000 đồng, nhưng do tin tư ng ạn è, nên ngày 20/11/2017, bà D1 ẫn iết giấy mượn bà D số tiền 700.000.000 đồng à nhờ em gái là à Trần Thị Ngọc T mang giấy mượn tiền này giao cho bà D tại thị ã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nơi bà D cư trú). Tuy nhiên, sau khi bà T đưa giấy mượn tiền, bà D không chuy n số tiền 300.000.000 đồng cho ay còn lại. Như ậy, đối ới khoản ay ngày 20/11/2017, bà D1 chỉ thừa nhận ay của bà D số tiền 400.000.000 đồng.

Đối ới khoản ay 150.000.000 đồng ngày 09/12/2017, bà D1 thừa nhận à đồng ý thanh toán nợ cho bà D.

Quá trình ay tiền, bà D1 trả lãi cho bà D đầy đủ, có tháng trả 3%, có tháng trả 10% hoặc 15%. Đến tháng 3/2018, bà D1 không còn khả năng thanh toán nên ngừng trả. Việc trả lãi, bà D1 nhờ bà T chuy n qua tài khoản của bà D à có 02 lần bà D1 tr c tiếp chuy n qua tài khoản cho bà D. Tổng số tiền lãi bà D1 đã trả cho bà D là 127.300.000 đồng. Cả hai khoản ay nêu trên là nợ riêng của bà D1, vì khi vay bà D1 không cho chồng à là ông Nguyễn Hải A iết.

Bà D1 chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà D, đồng ý thanh toán số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng; tiền lãi tính theo quy định của pháp luật, trừ số tiền 127.300.000 đồng à đã trả cho bà D.

- Tại Biên bản lấy lời hai ngày 21/12/2018 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ngọc T trình bày:

Bà T là em ruột của bà D1. Bà T cũng ay tiền của bà D 30.000.000 đồng, khi ay không iết giấy nợ. Vay ào ngày, tháng nào bà T không nhớ, chỉ nhớ khoảng năm 2015, khi ay không thỏa thuận thời hạn trả nợ, có thỏa thuận tiền lãi mỗi tháng 900.000 đồng. Số tiền trên, bà T và bà D1 thỏa thuận ới bà D cộng chung ới khoản nợ của bà D1 thành số tiền nợ 1.100.000.000 đồng ào năm 2017. Bà D1 đã trả cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng ào ngày 01/11/2017 đ bà D đáo hạn ngân hàng. Sau khi đáo hạn ngân hàng ong, bà D chuy n khoản cho bà D1 ay lại số tiền 300.000.000 đồng (điều này bà T nghe bà D1 nói). Sau đó (ngày, tháng nào bà T không nhớ), chỉ nhớ năm 2017 bà D1 gọi điện cho bà D ay thêm số tiền 300.000.000 đồng. Bà D hứa sẽ cho bà D1 ay, nhưng ới điều kiện bà D1 phải iết giấy nợ 700.000.000 đồng à mang giấy nợ lên Bình Phước đưa cho bà D thì bà D1 đồng ý. Sau khi iết giấy nợ xong, bà D1 nhờ bà T mang lên Bình Phước đưa cho bà D tại òng oay Đồng Xoài (thời gian ào khoảng 10 giờ). Sau đó bà T được bà D1 cho iết là bà D không chuy n số tiền 300.000.000 đồng cho bà D1 vay.

Đối ới số tiền nợ 30.000.000 đồng trước đây bà T ay của bà D, sau đó cộng chung khoản nợ 1.100.000.000 đồng của bà D1 thì bà T sẽ trả cho bà D1.

- Tại Bản tự hai ngày 12/9/2018 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải A trình bày:

Ông A là chồng của bà D1, đã ly hôn năm 2018. Việc ay tiền giữa bà D1 và bà D, ông A không iết. Số tiền ay bà D1 ay dùng ào iệc gì, ông A không rõ. Vì ậy, nếu bà D1 thật s có ay tiền của bà D thì bà D1 có trách nhiệm trả cho bà D.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu kh i kiện ề tiền lãi như sau: Tiền lãi của khoản ay ngày 20/11/2017, tính đến ngày 23/4/2019 là 17 tháng 3 ngày, lãi suất 10%/năm, tương ứng số tiền 99.750.000 đồng; tiền lãi của khoản ay ngày 09/12/2017, tính đến ngày 23/4/2019 là 16 tháng 14 ngày, tương ứng số tiền 20.125.000 đồng, Tổng số tiền lãi là 119.875.000 đồng, trừ số tiền 15.000.000 đồng bà D1 đã trả cho bà D vào ngày 20/3/2018 à ngày 22/3/2018, còn lại số tiền lãi là 104.875.000 đồng.

- Bị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng không tham gia phiên tòa.

Bản án dân s sơ thẩm số: 20/2019/DS-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương đã tuyên :

Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn à Lê Thị D đối ới ị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 ề iệc tranh chấp hợp đồng ay tài sản.

Buộc bà D1 trả cho bà D số tiền 954.875.000đ (chín trăm năm mươi ốn triệu, tám trăm ảy mươi lăm ngàn đồng), trong đó nợ gốc là 850.000.000đ (tám trăm, năm mươi triệu đồng), nợ lãi là 104.875.000đ (một trăm lẻ ốn triệu, tám trăm ảy mươi lăm ngàn đồng) theo Giấy mượn tiền ngày 20/11/2017 à ngày 09/12/2017.

Xác định khoản nợ trên là nợ riêng của Bà Trần Thị Hồng D1, không liên quan ông Nguyễn Hải A.

Tiếp t c duy trì iện pháp khẩn cấp tạm thời Phong tỏa tài sản là th a đất số 87, tờ ản đồ số 51, diện tích 120 m2 tọa lạc tại phường Ph Thọ, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương đã được S Tài nguyên à Môi trường tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất, quyền s hữu nhà à tài sản khác gắn liền ới đất số CB 893806, số ào sổ CS04003 cho ông Nguyễn Hải A, sinh năm 1970 à Bà Trần Thị Hồng D1, sinh năm 1972, cùng ng tại Số 65 đường D4, hu dân cư Phú H, phường Phú H, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật Tố t ng dân s đ đảm ảo iệc thi hành án.

Ngoài ra, ản án còn tuyên ề án phí, trách nhiệm chậm thi hành án, lãi suất chậm thi hành án à quyền kháng cáo của đương s .

Sau khi t sơ thẩm, ngày 31 tháng 5 năm 2019 ị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 kháng cáo và ngày 04 tháng 6 năm 2019 người có quyền lợi nghĩa liên quan ông Nguyễn Hải A kháng cáo toàn ộ ản án.

Tại phiên tòa ph c thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, ị đơn, người có quyền lợi, nghĩa liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương s không thỏa thuận được ới nhau ề iệc giải quyết án.

- Đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát i u ý kiến: Những người tiến hành tố t ng à tham gia tố t ng tại Tòa án cấp ph c thẩm đã th c hiện đ ng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s về phiên tòa ph c thẩm.

Về nội dung: Bị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 kháng cáo cho rằng nguyên đơn kh i kiện yêu cầu ị đơn thanh toán số nợ 700.000.000 đồng (khoản ay ngày 20/11/2017) là không đ ng, nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, đề nghị Hội đồng t không chấp nhận kháng cáo của ị đơn. Đối ới kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa liên quan cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng iện pháp khẩn cấp thạm thời không đ ng. X t thấy, iệc thỏa thuận tài sản riêng có sau khi án đã th lý sơ thẩm hai tháng nhằm trốn tránh nghĩa của một bên. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng iện pháp khẩn cấp tạm thời đối ới tài sản này đ ảo đảm thi hành án là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng t giữ nguyên ản án sơ thẩm.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, i m sát iên t thấy:

[1] Về tố t ng:

[1.1] háng cáo của ị đơn à người có quyền lợi, nghĩa liên quan th c hiện trong thời hạn luật định, nên án được t theo thủ t c ph c thẩm. Bà Trần Thị Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa liên quan, đồng thời là người làm chứng, được Tòa án cấp ph c thẩm triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai (theo hình thức niêm yết giấy triệu tập), nhưng ắng mặt không có lý do. Tòa án t

ắng mặt bà T theo quy định của pháp luật.

[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm nhận định các ấn đề ề thẩm quyền giải quyết

án; người tham gia tố t ng, thời hiệu, phạm i kh i kiện đ ng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s .

[2] Nội dung, t yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

[3] Quá trình giải quyết án tại Tòa án cấp sơ thẩm à ph c thẩm, bà D1 thừa nhận có ay của bà D số tiền 150.000.000 đồng ào ngày 09/12/2017 à số tiền 400.000.000 đồng của khoản ay ngày 20/11/2017 à đồng ý thanh toán nợ gốc là 550.000.000 đồng ( t l c 246, 248).

[4] Bà D1 cho rằng số tiền 300.000.000 đồng trong số 700.000.000 đồng của khoản ay ngày 20/11/2017, bà D chưa giao (theo hình thức chuy n khoản) cho bà D1 à đưa ra chứng cứ là Bảng kê giao dịch tài khoản số 133576749 tại Ngân hàng TMCP Á Châu - Chi nhánh Bình Dương đ chứng minh bà D1 chưa nhận số tiền 300.000.000 đồng. Chứng cứ bà D đưa ra đ chứng minh bà D1 đã nhận đủ số tiền 700.000.000 đồng là giấy mượn tiền ngày 20/11/2017, trong đó có nội dung: “Tôi tên: Trần Thị Hồng D1… có mượn của Lê Thị D số tiền là: 700.000.000 đồng…”.

[5] X t thấy, nội dung giấy mượn tiền ngày 20/11/2017, các bên không thỏa thuận hình thức giao nhận tiền. Mặt khác, bà D ác định không giao số tiền 300.000.000 đồng còn lại cho bà D1 ằng hình thức chuy n khoản qua ngân hàng mà giao tr c tiếp tại nhà cha bà D1. Lời khai của bà T làm chứng cho bà D1 ề iệc bà D1 chưa nhận số tiền 300.000.000 đồng còn lại, nhưng bà T xác định chỉ nghe bà D1 nói lại. Vì ậy, những chứng cứ bà D1 đưa ra không có giá trị chứng minh.

[6] Chứng cứ nguyên đơn uất trình là 02 Giấy mượn tiền ngày 20/11/2017 và ngày 09/12/2017. Xét các chứng cứ này là ăn ản đọc được, nội dung rõ ràng, là ản chính; bà D1 thừa nhận chữ iết, chữ ký trong 2 giấy mượn tiền là của à, nên có giá trị chứng minh. Mặt khác, khoản ay 150.000.000 đồng ngày 09/12/2017 là khoản ay sau, bà D1 iết à ký giấy nợ, nhưng không đề cập gì ề số tiền 300.000.000 đồng mà bà D1 cho rằng chưa nhận là điều không hợp lý. Từ những nhận định nêu trên, đã có căn cứ khẳng định bà D1 vay của bà D 850.000.000 đồng.

[7] Xét yêu cầu tính lãi, số tiền là 119.875.000 đồng đối ới cả hai khoản ay nêu trên, thấy rằng: Các ên thỏa thuận ay có lãi, nhưng không ác định rõ mức lãi suất à có tranh chấp ề tiền lãi. Nguyên đơn yêu cầu tính theo lãi suất 10%/năm. Tòa áp cấp sơ thẩm áp d ng mức lãi suất này (tương ứng 0,833%/tháng) đ giải quyết là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân s năm 2015. Riêng khoản ay 150.000.000 đồng ngày 09/12/2017, bà D1 i phạm nghĩa thanh toán, nên phải chịu thêm tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân s . X t số tiền lãi bà D1 phải chịu theo quy định của pháp luật nhiều hơn số tiền lãi bà D yêu cầu là có lợi cho bà D1, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà D là có căn cứ.

[8] Bà D1 cho rằng đã trả cho bà D số tiền lãi 127.300.000 đồng theo tài liệu, chứng cứ bà D1 cung cấp tại các t l c từ 47 đến 56 thì số tiền chuy n khoản trong thời gian từ ngày 23/11/2017 đến ngày 22/3/2018 là 130.100.000 đồng, trong đó bà D1 trả ằng hình thức chuy n khoản cho bà D 15.000.000 đồng. Bà T trả ằng hình thức chuy n khoản cho bà D 112.300.000 đồng. Bà D không thừa nhận số tiền bà T chuy n khoản là tiền lãi của bà D1 trả. Bà D cho rằng trong khoảng thời gian bà D1 ay tiền, bà T cũng ay tiền của bà D, iệc ay tiền th hiện ằng Hóa đơn giá trị gia tăng kiêm lệnh chuy n tiền, giấy nộp tiền (số tiền 25.000.000 đồng) ào tài khoản của bà T ngày 04/01/2018 ( t l c 209). Số tiền bà T chuy n khoản cho bà D trong khoảng thời gian từ ngày 23/11/2017 đến ngày 12/3/2018 là tiền bà T trả nợ cho bà D. X t thấy, các giấy nộp tiền, chứng từ giao dịch của bà T ới bà D đều không th hiện nội dung bà T chuy n trả tiền lãi thay bà D1; giấy nộp số tiền 30.500.000 đồng ngày 23/11/2017 ( t l c 55) chỉ 3 ngày sau khi bà D1 ay tiền của bà D, bà T cho rằng chuy n trả tiền lãi thay bà D1 là không hợp lý. Mặt khác, tại iên ản lấy lời khai ngày 21/12/2018 đối ới bà T ( t l c 229, 230), bà T thừa nhận trước đây có ay tiền của bà D. Lời khai của bà D1 ề iệc trả tiền lãi không được bà D thừa nhận. Do đó, tất cả các giấy nộp tiền, chứng từ giao dịch của bà T ới bà D tại ngân hàng trong khoảng thời gian từ ngày 23/11/2017 đến ngày 12/3/2018 do bà D1 cung cấp không có giá trị chứng minh tiền lãi bà D1 trả cho bà D. Bà D chỉ thừa nhận bà D1 đã trả 15.000.000 đồng tiền lãi. Dó đó, Tòa án cấp sơ thẩm khấu trừ số tiền này, ác định số tiền lãi bà D1 còn trả cho bà D 104.875.000 đồng (119.875.000 đồng - 15.000.000 đồng) là có căn cứ. Đối ới số tiền bà T chuy n khoản cho bà D, trường hợp có tranh chấp được giải quyết tại án dân s khác theo quy định của pháp luật.

[9] Xét nghĩa thanh toán: Ông Nguyễn Hải A, chồng bà D1 đã ly hôn, quá trình tham gia tố t ng các ên đương s đều ác định số tiền bà D kh i kiện là khoản ay riêng của bà D1 và bà D chỉ kh i kiện bà D1, không kh i kiện ông A. Vì ậy, Tòa án cấp sơ thẩm không uộc ông A có trách nhiệm liên đới thanh toán nợ cho bà D là phù hợp,

[10] X t kháng cáo của ông Nguyễn Hải A: Quá trình giải quyết án, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định áp d ng iện pháp khẩn cấp tạm thời ằng hình thức phong tỏa tài sản là th a đất số 87, tờ ản đồ số 51, diện tích 120 m2 tọa lạc tại phường Ph Thọ, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền s d ng đất, quyền s hữu nhà à tài sản khác gắn liền ới đất số phát hành CB 893806, số ào sổ CS04003 do S Tài nguyên à Môi trường tỉnh Bình Dương cấp cho ông A và bà D1 đ ảo đảm cho iệc thi hành án. Tòa án cấp sơ thẩm ác định chưa có căn cứ đ hủy ỏ iện pháp này, cần tiếp t c duy trì. Ông A cho rằng ông không có nghĩa thanh toán nợ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng iện pháp khẩn cấp tạm thời đối ới quyền s d ng đất của ông là không đ ng. X t thấy, mặc dù ông A và bà D1 đã ly hôn, nhưng quyền s d ng đất Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng iện pháp khẩn cấp tạm thời là tài sản được ác lập trong thời kỳ hôn nhân, chưa được phân chia. Vì ậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng iện pháp khẩn cấp tạm thời à tuyên duy trì iện pháp khẩn cấp tạm thời đ ảo đảm cho iệc thi hành án là có căn cứ.

Việc hủy ỏ Quyết định áp d ng iện pháp khẩn cấp tạm thời được th c hiện theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Tố t ng dân s .

Các đương s kháng cáo, nhưng không uất trình được chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ à hợp pháp. Vì ậy, yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

[11] Ý kiến của đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.

[21] Án phí dân s sơ thẩm: Các đương s phải chịu theo quy định pháp luật.

[22] Về án phí dân s ph c thẩm: Người kháng cáo phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

Q YẾT Đ NH:

- Căn cứ Điều 147, Điều 148; khoản 1, Điều 308 à Điều 313 của Bộ luật Tố t ng dân s ;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường Quốc hội quy định ề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý à s d ng án phí à lệ phí Tòa án;

1. hông chấp nhận kháng cáo của ị đơn Bà Trần Thị Hồng D1 à người có quyền lợi, nghĩa liên quan ông Nguyễn Hải A.

Giữ nguyên Bản án số 20/2019/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương

2. Về án phí dân s ph c thẩm: Bà Trần Thị Hồng D1, ông Nguyễn Hải A mỗi người phải chịu 300.000đ ( a trăm nghìn đồng), được khấu trừ ào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0034060 ngày 07/6/2019 à số 0034140 ngày 21/6/2019 của Chi c c Thi hành án dân s thành phố Thủ Dầu M.

Bản án ph c thẩm có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án./.

TM HỘI Đ NG X T X H C TH M N i nhận:

TH M HÁN – CHỦ TỌA HIÊN TÒA

- V SND tỉnh Bình Dương;

- TAND thành phố Thủ Dầu M;

- Chi c c THADS tp. Thủ Dầu M;

- Các đương s ;

- Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP.

Ngô Văn Minh

Cỡ chữ