- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Quang T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Quang T1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 252/2018/HSST Ngày 27 tháng 12 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Thái và Ông Nguyễn Ngọc Hấn
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tô Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Bà Nguyễn Diệu Thùy- Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 252/2018/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/HSST/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Quang T1
- Giới tính: Nam
Sinh năm: 1972
- Nơi sinh: Phú Thọ
Nơi ĐKHKTT: Khu T, xã H, huyện Y, tỉnh P.
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
Nghề nghiệp: Không
- Trình độ học vấn: 11/12
Họ tên cha: Lưu Văn T2
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L
TATS: không
Nhân thân : 01 tiền án
* 01 tiền án:
- Ngày 04/6/2003, Tòa án nhân dân quận Ba Đình áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt: 4.000.000 đồng). Án số: 108/HSST (án tích đã xóa).
Tạm giữ: 05/10/2018
Tạm giam: 14/10/2018
Số giam: 4230Q1/5.
Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.
Có mặt
Người bị hại :
Chị Trần Thị Trang N, sinh năm: 1996; ĐKHKTT: xã P, huyện T, thành phố T. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 04/10/2018, chị Trần Thị Trang N (sinh năm: 1996; ĐKHKTT: xã P, huyện T, thành phố T) đứng chờ bạn trước cửa số 03 Trần Nhật Duật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì thấy có người động vào balo sau lưng nên quay lại bắt quả tang Lưu Quang T1 đang lấy chiếc điện thoại Iphone 6S từ trong balo. Chị N hô hoán, T1 thấy vậy bỏ chạy về hướng phố Hàng Đậu. Khi chạy được 2 - 3m thì bị cảnh sát giao thông gần đó bắt giữ cùng tang vật đưa về trụ sở Công an phường Đồng Xuân để giải quyết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 135/BKL-HĐĐG ngày 08/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S màu trắng hồng - 16G có số IMEI: 353311077001471 (đã qua sử dụng) có trị giá 4.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Lưu Quang T1 khai nhận: Khoảng 17h45’ ngày 04/10/2018, T1 đi bộ lang thang tại khu vực ga Long Biên với mục đích xem có ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến gần trước cửa nhà số 3 Trần Nhật Duật, Thành phát hiện chị Trần Thị Trang N nên áp sát sau lưng chị N, dùng tay trái kéo khóa mở chiếc balo lấy chiếc điện thoại. Khi T1 vừa lấy chiếc điện thoại ra khỏi balo thì bị chị N phát hiện, hô hoán, T1 bỏ chạy về hướng phố Hàng Đậu thì bị bắt giữ như đã nêu trên.
Chị Trần Thị Trang N khai phù hợp với lời khai của Lưu Quang T1. Chị N khai mua chiếc điện thoại trên với giá 5.200.000 đồng từ tháng 2/2018 tại Hải Phòng, khi mua bán không có giấy tờ. Ngày 13/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm đã trả chiếc điện thoại trên cho chị N, chị N nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 245/CT-VKS ngày 16/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Lưu Quang T1 vÒ téi "Trém c¾p tµi s¶n" theo ĐiÒu 173 kho¶n 1 Bé luËt h×nh sù.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi, tội danh và điều luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Quang Thành phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Quang T1 từ 9 tháng đến 12 tháng tù giam.
Bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng nêu và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an quận Hoàn Kiếm; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên quận Hoàn Kiếm trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử,Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Về các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
XÐt khai nhận cña bÞ c¸o t¹i phiªn tßa phï hîp lêi khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vËt chøng, kÕt luËn gi¸m ®Þnh cïng c¸c tµi liÖu chøng cø kh¸c mµ c¬ quan ®iÒu tra ®· thu thËp ® îc trong hå s¬ vô ¸n nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 04/10/2018, tại trước cửa số nhà 03 Trần Nhật Duật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Lưu Quang T1 đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 6S màu trắng hồng - 16G có số IMEI: 353311077001471 có trị giá 4.000.000 đồng của chị Trần Thị Trang N thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lưu Quang T1 đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. C¸o tr¹ng cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Hoµn KiÕm truy tố bÞ c¸o vÒ tội danh và điều luật như trên lµ cã c¨n cø vµ ®óng ph¸p luËt.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội, bản thân bị cáo đã một lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tuy đã được xóa án tích nhưng nay vẫn phạm tội cùng loại thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải có mức hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả người bị hại. Đây là các tình tiết để xem xÐt giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về dân sự: đã được giải quyết trong quá trình điều tra, những người bị hại không có yêu cầu gì, nên Tòa không xét.
BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm và có quyền kháng cáo theo quy ®Þnh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lưu Quang T1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Quang T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 05 th¸ng 10 n¨m 2018.
3. ¸p dông §iÒu 135,136 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toµ ¸n, buéc bÞ c¸o Lưu Quang T1 ph¶i nép 200.000 ®ång ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
4. ¸p dông §iÒu 331, 333 Bé luËt tè tông h×nh sù: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
| - TAND TP Hµ Néi; - VKSND quËn Hoµn KiÕm; - C«ng an quËn Hoµn KiÕm; - Chi côc THADS quËn Hoµn KiÕm; -Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú; ( thay thông báo); - Bị cáo, đương sự khác; - L u HS vô ¸n. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Anh Tuấn |