vanban.org

Bản án 251/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Quốc H1, sinh ngày 03/8/2017, cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh T vắng mặt không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Cháu H1 có nguyện vọng được ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2025/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 5 - 2025
V/v ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hoàng Giang

Ba Nguyễn Thị Cẩm Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 679/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 về ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp TL, xã TL, huyện GR, tỉnh KG

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp TL, xã TL, huyện GR, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Thúy H nguyên đơn trình bày: Chị H và anh Trần Văn T tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Quá trình hôn nhân giữa chị và anh T hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cải nhau liên tục. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị và anh T đi Bình Dương làm thuê chưa được bao lâu thì anh T thay đổi tính tình sinh tật ăn chơi, thường xuyên rượu chè về nhà kiếm chuyện chửi mắn chị. Mặc dù chị đã cố gắng chịu đựng và khuyên nhũ anh T nhưng anh T không thay đổi nên chị đã bỏ về quê và sống ly thân với anh T từ tháng 8/2024 đến nay. Nay chị xét thấy giữa chị và anh T không còn tình cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị H và anh T có với nhau 01 người con chung tên Trần Quốc H1, sinh ngày 03/8/2017, hiện đang sống cùng với anh T nên chị tiếp tục giao con cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản, ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H có đơn xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tòa án đã triệu tập anh T đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt, không vì lí do bất khả kháng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Hội đồng xét xử, thẩm phán, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình tố tụng nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và bị đơn vắng mặt. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Trần Văn T tiến tới hôn có đăng ký kết hôn theo quy định, nên xác định hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh T. Xét thấy chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ánh T và cả hai đã sống ly thân với nhau hôn nhân anh chị đã lâm vào trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chi H và anh T có với nhau 01 người con chung tên Trần Quốc H1, sinh ngày 03/8/2017, hiện đang sống cùng với anh T chị H đề nghị giao con cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu H1 có nguyện vọng được ở với cha nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu H1 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng cháu H1. Về cấp dưỡng nuôi con do anh T vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu nên đề ngị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh T với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại Ấp TL, xã TL, huyện GR, tỉnh KG nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Quá trình tố tụng nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và bị đơn vắng mặt căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Trần Văn T là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đúng thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị H cho rằng giữa chị anh T thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị và anh T đã sống ly thân. Đối với bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án thông báo về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh T vắng mặt suốt trong quá trình tống tụng không đưa ra ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng nhau xây dựng nhưng chị H và anh Đạt đã sống ly thân. Trong quá trình tố tụng Tòa án đã giải thích về pháp luật và động viên nhưng chị H kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh T nên xét thấy hôn nhân của chị H và anh T đã lâm vào trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T.

. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Trần Văn T có với nhau 01 người con chung Trần Quốc H1, sinh ngày 03/8/2017, theo chị H con đang sống cùng với anh T và cháu có nguyện vọng được ở với cha nên chị giao con cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định sau khi vợ chồng ly hôn về con chưa thành niên thì do vợ chồng tự thỏa thuận giao cho một bên trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nếu không thỏa thuận được thì Tòa án căn cứ vào quyền lợi của các con mà giao con cho một bên chăm sóc. Trong suốt quá trình tố tụng anh T vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì chị H xác định con đang sống cùng với anh T. Để giữ sự ổn định và phát triển tốt nhất cho con nên giao con chung anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 và phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con do anh T vắng mặt không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chị án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng các Điều 56; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Trần Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Quốc H1, sinh ngày 03/8/2017, cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh T vắng mặt không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cháu H1 có nguyện vọng được ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chị án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009070, ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thúy H, anh Trần Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.

Cỡ chữ