vanban.org

Bản án 251/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Bùi Văn V.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 198, quyển số 0I/2002 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2002 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Quá trình chung sống, bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Bùi Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07/4/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đúng.

2. Ông Lại Hữu Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 950/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1967 – Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Bùi Văn V, sinh năm 1961 – Vắng mặt.

Địa chỉ: xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 09/9/2022, bản tự khai ngày 16/01/2023, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 16/01/2023 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 16/01/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V chung sống với nhau từ năm 1990, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 198, quyển số 0I/2002. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp. Ông V thường xuyên nổi nóng vô cớ, đánh chửi bà Đ không lý do, ông V sống rất gia trưởng. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà Đ đã cố gắng hàn gắn. Bà Đ và ông V đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Văn V.

Về con chung: Bà Đ và ông V chung sống chỉ có 01 con chung tên là Bùi Nguyễn Trường Phát (nam), sinh năm 1999 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Bùi Văn V vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Bùi Văn V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Văn V. Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 17/11/2022 do Công an xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì ông Bùi Văn V có đăng ký tạm trú và cư trú tại địa chỉ: xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

+ Ông Bùi Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Bùi Văn V.

+ Bà Nguyễn Thị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Đ.

[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 198, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2002 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà Đ và ông Bùi Văn V chung sống với nhau từ năm 1990, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp. Ông V thường xuyên nổi nóng vô cớ, đánh chửi bà Đ không lý do, ông V sống rất gia trưởng. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà Đ đã cố gắng hàn gắn. Bà Đ và ông V đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Mục đích hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V đã không còn, bà Đ không muốn chung sống với ông V nữa và yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Văn V.

Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 17/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình của bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V thì được biết: “Ông V và bà Đ có với nhau 02 (hai) người con, một người đã chết. Người con hiện tại tên Bùi Nguyễn Trường P, sinh năm 1999 (hiện đang sống, buôn bán cùng mẹ tại địa chỉ trên)”.

Ông Bùi Văn V dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thể hiện yêu cầu của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, ông Bùi Văn V cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Nguyễn Thị Đ. Như vậy, ông Bùi Văn V đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên ông Bùi Văn V phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét nhận thấy việc bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn V là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Bùi Văn V.

Về con chung:

Căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị Đ thì: Bà Đ và ông V chỉ có 01 con chung tên là Bùi Nguyễn Trường P(nam), sinh năm 1999 (đã trưởng thành). Bà Đ xác nhận anh P đã trưởng thành nên không có yêu cầu giải quyết việc giao con chung, cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh P.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ xác định bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V chung sống không có tài sản chung, không nợ ai.

Ông Bùi Văn V vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Tòa hôm nay, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V.

Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Bùi Văn V.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 198, quyển số 0I/2002 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2002 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V có 01 con chung tên là Bùi Nguyễn Trường P (nam), sinh năm 1999 (đã trưởng thành). Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Đ xác định bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V chung sống không có tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Đ xác định bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V chung sống không nợ ai. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0041859 ngày 28/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Bùi Văn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ