- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn K - K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn K. Cho anh Lê Văn K và chị Huỳnh Thị H ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 25/2022/HNGĐ - ST Ngày 23 - 5 -2022 “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Duy Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trọng Ngữ.
2. Ông Lê Văn Vững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 385/2021/TLST–HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2021. Về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2022/QĐXXST – HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 251/2022/QĐST – HNGĐ, ngày 04/5/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Văn K, sinh năm 1983.
- Bị đơn: Huỳnh Thị H, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
Tại phiên tòa, anh K có mặt; chị H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Anh Lê Văn K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H quen biết và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Điền vào năm 2010.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Từ tháng 5/2019 đến nay, chị H bỏ nhà đi không về. Đi đâu anh K và người thân trong gia đình không biết.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với chị H.
Về quan hệ nuôi con: Có 02 con chung tên Lê Quốc Duy, sinh ngày 08/4/2011 và Lê Duy Bảo, sinh ngày 13/7/2012 (hai cháu đang sồng cùng anh K). Anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Không có.
Về quan hệ nợ: Không có.
- Chị Huỳnh Kim H trình bày: Không.
Các tài liệu trong hồ sơ đã được công Ki theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công Ki chứng cứ ngày 15 tháng 4 năm 2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật:
Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 05/11/2021 của anh K và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Huỳnh Thị H là bị đơn có nơi cư trú ấp Mỹ Tân, xã Phú Điền, huyện Tháp Mười, Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị H vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt chị H là đúng quy định.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh K, chị H kết hôn năm 2010, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Điền là phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa, anh K yêu cầu ly hôn với chị H vì anh không còn tình cảm dành cho chị H. Từ năm 2019 đến nay, chị H bỏ địa phương đi, đi đâu anh K và người thân trong gia đình không biết và anh K đã làm thủ tục pháp lý yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Huỳnh Thị H mất tích.
Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.
Xét thấy, anh K yêu cầu ly hôn với chị H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan hệ nuôi con: Anh K trình bày có 02 con chung tên Lê Quốc D, sinh ngày 08/4/2011 và Lê Duy B, sinh ngày 13/7/2012 (hai cháu đang sồng cùng anh K). Anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ Tờ tự khai cháu D và cháu B đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng muốn được sống cùng anh K.
Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận nguyện vọng của cháu D, cháu B. Giao cháu D, cháu B cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng.
Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
1. .....
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
.....
Về quan hệ tài sản: Không có.
Về quan hệ nợ: Không có.
Về án phí: Anh K phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn K. Cho anh Lê Văn K và chị Huỳnh Thị H ly hôn.
2. Về quan hệ nuôi con: Anh K tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung tên Lê Quốc D, sinh ngày 08/4/2011 và Lê Duy B, sinh ngày 13/7/2012 (hai cháu đang sống cùng anh K).
Anh K, chị H có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không bên nào được quyền ngăn cấm. Sau khi ly hôn chị H được quyền thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Không có.
4. Về quan hệ nợ: Không có.
5. Về án phí sơ thẩm: Anh K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0001626 ngày 18/11/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
6. Về quyền kháng cáo: Anh K được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tháp Mười; - Chi cục THADS huyện Tháp Mười; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Lê Duy Khánh |