- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Dương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG ----------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 251/2022/HS-ST Ngày: 08 - 09 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đăng Khoa
Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vẹn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 08 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 08 năm 2022, đối với bị cáo:
Dƣơng Văn T, sinh ngày 10/09/2000. Tại G, Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T1, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T2 và bà Trương Thị Thu H1; Anh chị em ruột: Không có; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày: 25/03/2022 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người chứng kiến: Trần Thị Q, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà 466/28 đường T3, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Người chứng kiến:
- Võ Hoàng N, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 49 đường T4, phường Q, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Lý Tiểu Huynh, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 167 đường Đ, phường H2, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/03/2022, Dương Văn Ttừ nhà mình ở huyện Tân Hiệp, tỉnh kiên Giang đi đến thành phố G gặp bạn gái tên Mi (không biết học tên thật, địc chỉ) để lấy lại chiếc điện thoại di đông nhãn hiệu Oppo mà Dương Văn Tcho Mi mượn trước đó. Sau khi lấy được điện thoại, Dương Văn Tđến phường Rạch Sỏi uống cà phê với một người bạn cũng tên Trương (không biết học tên thật, địc chỉ). Lúc này, Tđưa cho Dương Văn T01 vỏ bao thước lá hiệu CRAVEN, bên trong có chức 09 bịch ma túy loại Khay và 03 viên thuốc lắc nhờ đem về phòng số 08 nhà trọ số 466/28 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố G của Tcất giấu giùm. Dương Văn Tbiết trong vỏ thuốc lá có chứa ma túy nhưng vẫn đồng ý đem về phòng trọ cho T. Đế khoảng 20 giờ 50 phút, khi Dương Văn Tđi đến trước phòng số 08 nhà trọ số 466/28 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang trong túi quần (phía trước bên trái) của T đang mặc 01 vỏ thuốc lá hiệu CRAVEN, bên trong có chứa 01 bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng, bên trong bọc nylon có chứa 09 bịch ma túy loại Khay; 01 bịch nylon có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có chứa 03 viên thuốc lắc. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ trên kệ bếp trong phòng số 08 của T01 bịch nylon có rãnh gài viền màu trắng, bên trong có chứa 44 viên thuốc lắc và 05 mảnh vụn của thuốc lắc bị vỡ (Đối với số ma túy này, Dương Văn Tkhai không biết của ai). Đến ngày 01/04/2022, bị cáo Dương Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố.
Bị cáo Dương Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Dương Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
* Vật chứng của vụ án: 01 (Một) vỏ thuốc lá hiệu CRAVEN, bên trong vỏ thuốc có chứa: 01(Một) bịch nylon trong suốt có rãnh gái viền màu trắng, bên trong bịch nylon có chứa 04 (Bốn) bịch nylon khác có rãnh gài viền màu trắng (trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất); 05 (Năm) bịch nylon có rãnh gài viên màu Cam (trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất); 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có chứa 03 (Ba) viên nén màu xanh, hình đầu lâu. Tất cả được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký xác nhận của người bị bắt Dương Văn T, người chứng kiến Võ Hoàng N, Lý Tiểu H, Điều tra viên Thái Trần Chung và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường Vĩnh Lạc, thành phố G (gói 01);
- 01 (Một) bịch nylon có rãnh gài viền màu trắng, bên trong có chứa 44 viên nén màu xanh, hình bông mai và 05 mảnh vụn màu xanh. Tất cả được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký xác nhận của người bị bắt Dương Văn T, người chứng kiến Võ Hoàng Nhựt, Lý Tiểu Huynh, Điều tra viên Thái Trần Chung và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường Vĩnh Lạc, thành phố G (gói 02), (thu giữ trên kệ bếp trong phòng số 08);
- 01 (Một) bình nhựa (chai nhựa) màu vàng hiệu Numberone, trên nắp có gắn ống thủy tinh (nỏ) dùng để sử dụng ma túy;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI: 8667570052340135, đã qua sử dụng (bút lục số 02, 03).
* Tại bản kết luận giám định số 280/KL-KTHS ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang xác định:
- Gói 1:
+ Các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 09 (Chín) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 9,3178 gam.
+ 03 (Ba) viên nén màu xanh hình đầu lâu chứa trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,2030 gam.
- Gói 02: 44 (Bốn mươi bốn) viên nén màu xanh, hình bông mai và 05 (Năm) mảnh vụn màu xanh chứa trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 16,2055 gam.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang nêu trên.
* Theo bản cáo trạng số: 171/CT.VKSRG ngày 19/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Văn T mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) vỏ thuốc lá hiệu CRAVEN, đã qua sử dụng; 01 (Một) bình nhựa màu vàng hiệu Numberone, bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh. 01 (Một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 280/2022/Gói 01, ngày 01/04/2022, có các chữ ký ghi họ tên: người chứng kiến Nguyễn Giang T, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Dương Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/03/2022, Dương Văn T được người bạn tên T (Không rõ tên thật, địa chỉ) nhờ đem võ thuốc lá CRAVEN bên trong có chứa 09 bịch ma túy loại Khay và 03 viên thuốc lắc nhờ đem về phòng số 08 nhà trọ số 466/28 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố G của T Cất giấu giùm. Dương Văn T biết bên trong vỏ thuốc lá có chứa ma túy nhưng Dương Văn T đồng ý đem về phòng trọ giùm cho T. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi Dương Văn T đi đến trước phòng trọ số 08 thì bị lực lượng Công an thành phố G kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng (Qua giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng mẫu gửi giám định là 9,3178 gam; ma túy loại MDMA có khối lượng mẫu gửi giám định là 1,2030 gam).
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo xảy ra rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do xuất phát từ việc giúp đỡ bạn bè, bị cáo biết bên trong gói thuốc lá có chứa ma túy nhưng không khuyên ngăn mà bị cáo bất chấp lao vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là điều kiện để làm phát sinh tội phạm khác. Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo mức án tương xứng bằng hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) vỏ thuốc lá hiệu CRAVEN, đã qua sử dụng; 01 (Một) bình nhựa màu vàng hiệu Numberone, bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh; 01 (Một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 280/2022/Gói 01, ngày 01/04/2022 có các chữ ký ghi họ tên: người chứng kiến Nguyễn Giang T, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”.
- Đối với 01 (Một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 280/2022/Gói 02, ngày 01/04/2022, có các chữ ký ghi họ tên: người chứng kiến Nguyễn Giang Trường, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”. Đây là bịch ma túy thu giữ trên kệ bếp trong phòng số 08, nhà trọ số 466/28 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố G. Hiện chưa xác định được bịch ma túy trên là của người nào nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, tiếp tục điều tra xử lý sau. (Theo lệnh nhập kho vật chứng số 82, ngày 20/05/2022 của Cơ quan cảnh sat điều tra Công an thành phố G (Bút lục 91).
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Kiên Giang đã trao trả tài sản không liên quan đến vật chứng của vụ án là 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh, số IMET: 8667570052340135, đã qua sử dụng cho Dương Văn T. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Theo bản luận tội mà Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên T hiện chưa xác định được tên thật, địa chỉ đã đưa ma túy cho bị cáo Dương Văn T và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ của T, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra, làm rõ khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Dương Văn T mức án 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/03/2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) vỏ thuốc lá hiệu CRAVEN, đã qua sử dụng; 01 (Một) bình nhựa màu vàng hiệu Numberone, bên trên có gắn một đoạn ống thủy tinh. 01 (Một) phong bì màu trắng được dán kín và niêm phong có ký hiệu vụ số 280/2022/Gói 01, ngày 01/04/2022, có các chữ ký ghi họ tên: người chứng kiến Nguyễn Giang T, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy có các hình dấu tròn màu đỏ có ghi nội dung “Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang”.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 169/QĐ-VKS ngày 19/08/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang)
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 08/09/2022). * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. G; - Cơ quan THA Dân sự Tp.G; - Công an thành phố G; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |