vanban.org

Bản án 251/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đối với bà Ông Tinh B.

Buộc bà Ông Tinh B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền còn nợ tính đến ngày 15/6/2022 là 325.491.710 đồng (ba trăm hai mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi mốt ngàn, bảy trăm mười đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 66.603.552 đồng và tiền nợ lãi là 258.888.158 đồng. Bà Ông Tinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đối với bà Ông Tinh B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2022/DS-ST
Ngày: 15/6/2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Khanh;

2. Bà Trần Thị Thiếu Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 323/2021/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2022/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A

Địa chỉ trụ sở: Số A đường N, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Trần Ngọc Trâm A, sinh năm 1989 (theo văn bản ủy quyền số: 423.1/UQ-QLN.22 ngày 25/02/2022)

(Bà Trâm A có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Tinh B, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số P đường K, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 6 năm 2021, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác do các bên đương sự cung cấp thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP A có bà Trần Ngọc Trâm A là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày: Ngày 08/12/2010, Ngân hàng TMCP A (sau đây gọi là A) và bà Ông Tinh B có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A, chi tiết như sau:

Số thẻ tín dụng: 4791 3926 0000 5371

Loại thẻ: Visa vàng

Hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng

Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Ông Tinh B đã không thanh toán đầy đủ cho A theo Thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 09/01/2013, A đã ra Thông báo chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn. Ngày 08/02/2013, A đã chuyển khoản nợ thẻ của bà Ông Tinh B sang nợ quá hạn và ra Thông báo chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 15/4/2021, bà Ông Tinh B còn nợ A các khoản sau: vốn gốc: 66.603.552 đồng, lãi quá hạn: 225.073.626 đồng, tổng cộng: 291.677.178 đồng.

Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP A yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Ông Tinh B phải trả cho Ngân hàng TMCP A tổng số tiền tính đến ngày 15/6/2022 là 325.491.710 đồng, bao gồm: 66.603.552 đồng tiền vốn và 258.888.158 đồng tiền lãi. Bà Ông Tinh B có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 16/6/2022 đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn bà Ông Tinh B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không rõ lý do vàkhông có văn bản ghi nhận ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn bà Ông Tinh B vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn xét xử không đảm bảo theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A và bà Ông Tinh B, bản kê tính lãi ngày 15/6/2022, cho thấy bà Bình có sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP A với số tiền còn nợ tính đến ngày 15/6/2022 tổng cộng là 325.491.710 đồng, trong đó, tiền nợ gốc là 66.603.552 đồng và tiền nợ lãi là 258.888.158 đồng. Bà Bình chưa thanh toán đầy đủ số tiền đã giao dịch, các khoản phí và lãi suất cho Ngân hàng. Việc bà Bình không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 474 BLDS năm 2005. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP A khởi kiện buộc bà ông Tinh B phải trả số tiền nợ trên là phù hợp. Từ phân tích trên, căn cứ Điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ ánđược thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Ông Tinh B có nơi cư trú cuối cùng tại số Số P đường K, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự,.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp. Đối với bị đơn là bà Ông Tinh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Bình.

Bà Ông Tinh B là người trực tiếp ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần A. Do đó, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà Ông Tinh B chịu trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng, không yêu cầu chồng bà Bình (nếu có) liên đới trả nợ. Đồng thời, bà Bình vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được bất cứ ý kiến nào của bà Bình. Căn cứ vào quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không đưa chồng bà Bình (nếu có) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 08/11/2010 thì bà Ông Tinh B cung cấp địa chỉ tại số Số P đường K, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Tính đến nay, bà Bình không có bất kỳ thông báo nào cho Ngân hàng biết địa chỉ nào khác của bà Bình. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì “Bà Ông Tinh B, sinh năm 1976 không thực tế cư trú tại nhà địa chỉ Số P đường K, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2010 cho đến nay đi đâu không rõ”. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ ghi trong Hợp đồng nhưng không thông báo nơi cư trú mới cho người khởi kiện xem như bị đơn cố tình giấu địa chỉ”. Do đó, Hội đồng xét xử xác định địa chỉ bị đơn tại Số P đường K, khu phố 7, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để Tòa án tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp: Xét, qua yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A yêu cầu bà Ông Tinh B trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 15/6/2022 là 325.491.710 đồng, bao gồm: 66.603.552 đồng tiền vốn và 258.888.158 đồng tiền lãi. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ cũng như lời trình bày của các bên đương sự thì hai bên có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng. Việc ký kết này có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng, lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của đôi bên. Bà Bình đã sử dụng số tiền trên nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết, nên hiện nay phía Ngân hàng yêu cầu bà Bình phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh là có căn cứ. Do bị đơn đã vi phạm thời hạn thanh toán nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là chính đáng, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời, bà Bình tiếp tục chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng.

Bị đơn bà Ông Tinh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập cũng như tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó bà Bình đã từ bỏ quyền phản đối của mình theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với ý kiến phát biểu Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn, việc đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là đúng với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bà Ông Tinh B chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Thương mại Cổ phần A không phải chịu án phí. Hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 471, 474 và 476 Bộ luật dân sự 2005;

- Căn cứ Luật các Tổ chức Tín dụng;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

- Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đối với bà Ông Tinh B.

Buộc bà Ông Tinh B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền còn nợ tính đến ngày 15/6/2022 là 325.491.710 đồng (ba trăm hai mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi mốt ngàn, bảy trăm mười đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 66.603.552 đồng và tiền nợ lãi là 258.888.158 đồng.

Bà Ông Tinh B còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tiền lãi phát sinh từ ngày 16/6/2022 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A cho đến khi bà Bình thanh toán hết nợ.

2. Về án phí:

Bà Ông Tinh B chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.274.586 đồng (mười sáu triệu, hai trăm bảy mươi bốn ngàn, năm trăm tám mươi sáu đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.291.929 đồng (bảy triệu, hai trăm chín mươi mốt ngàn, chín trăm hai mươi chín đồng) theo biên lai số 0033080 ngày 21/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao nhận, tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lưu Kim Ngân

Cỡ chữ