vanban.org

Bản án 251/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 18/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn V 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn tù tính từ ngày 08/07/2021. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2021/HSST
Ngày 18 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Lưu

Bà Dương Thị Diễm

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 206/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2021/HSST-QĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Đỗ Văn V, sinh ngày: 02/02/1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn NL, xã LT, huyện VL, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở: không cố định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Đỗ Văn V (Sinh năm: 1964); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T (Sinh năm 1964); Bị cáo có 01 em; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị M (Sinh năm: 1992 – đã ly hôn); Bị cáo chưa có con;

Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 361 ngày 18/7/2021.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 8/7/2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 - CATP Hà Nội.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn T, Sinh năm: 1999; Hộ khẩu thường trú: Khu 7, Tạ Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

(Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Văn V không có nghề nghiệp ổn định, nên thường xuyên lang thang quanh khu vực chợ LB để tìm việc. Khoảng 13h30 ngày 08/07/2021, V đi bộ đến đầu ngách 61/127 PX, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, V phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 89X7 - 9565 của anh Nguyễn Văn T đang dựng ở đầu ngách 61/127, chìa khóa xe vẫn đang cắm chìa khóa ở ổ điện, V nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. V đi bộ lại gần, quan sát thấy không có người trông giữ, V nhanh chóng ngồi lên xe, vặn chìa khóa điện và nổ máy điều khiển xe tẩu thoát. V điều khiển xe đến nhà đến nhà bạn là Phạm Hùng A (Sinh năm: 1984; Trú tại: 98 YP, phường NTT, quận BĐ, thành phố Hà Nội) để gửi, đợi tìm được nơi tiêu thụ sẽ mang đi bán. Khi đến nơi V dựng xe trên vỉa hè trước cửa số 98 YP (ở ngoài ngõ nhà Hùng A) rồi vào trong nhà nói chuyện với Hùng A và nói chiếc xe trên là do V trộm cắp được đến gửi nhờ chờ mang đi tiêu thụ. Sau đó, V ra về và nhắn tin cho Hùng A nhờ trông hộ chiếc xe trên. Đến chiều cùng ngày V bị Công an quận BĐ đưa về trụ sở để làm việc.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ BKS 89K7 – 9565 đằng sau có 01 khung giá chở hàng bằng kim loại.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiao Mi có số sim 0886402118 và số sim 0862905376.

- 01 chìa khóa xe máy logo Honda.

- 01 bộ quần áo gồm: 01 áo phông cộc tay, 01 quần đùi tối màu, 01 đôi dép lê màu đen, vàng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel có số sim 0778431911.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 120/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/07/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân quận BĐ kết luận:

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave BKS 89X7 – 9565 đã qua sử dụng có trị giá 5.000.000 đồng.

+ 01 khung giá chở hàng bằng kim loại đã qua sử dụng có trị giá 300.000 đồng.

Bị hại anh Nguyễn Văn T trình bày: Khoảng 13h00 ngày 08/07/2021, anh T điều khiển xe máy Honda Wave RSX màu đỏ BKS 89K7 – 9565 đến nhà người quen tại tổ 3 cụm 2 PX, quận BĐ chơi. Đến nơi, anh T dựng xe ở đầu ngách 61/127 PX, xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ điện rồi vào nhà. Đến khoảng 13h30’ anh T đi ra thì không thấy chiếc xe máy đâu nên đến Cơ quan Công an trình báo.

Anh Phạm Hùng A khai nhận: Khoảng trưa ngày 8/7/2021, Hùng A đang nằm một mình tại nhà tập thể 98 YP, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thì có Đỗ Văn V đến chơi. V nói chuyện đi xe máy đến và gửi trước cửa khu tập thể nhà Hùng A để đi có việc thì Hùng A đồng ý. Lúc này, Hùng A cầm điện thoại chơi game trong nhà nên không biết V đi xe gì tới, sau đó V đi về. V đi về được một lúc thì Hùng A thấy V nhắn tin qua Facebook Messinger nhưng do đang bận chơi game nên Hùng A chỉ nhắn tin lại là “uh” mà không đọc tin nhắn của V. Chơi game xong, Hùng A đi bộ ra đầu khu tập thể thì thấy có 01 xe máy Honda Wave RSX BKS: 89K7 - 9565 dựng ở đầu ngõ, Hùng A đoán là xe của V nhờ gửi. Hùng A không biết chiếc xe trên là do V trộm cắp mà có.

Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy Honda Wave RSX màu đỏ BKS 89K7 - 9565 đằng sau có 01 khung giá chở hàng cho anh Nguyễn Văn T, anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Đối với Phạm Hùng A, các tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định Hùng A biết xe máy Đỗ Văn V mang đến gửi là tài sản do V trộm cắp mà có được. Do đó, không có căn cứ để xử lý Hùng A về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

Tại cáo trạng số 205/CT-VKS ngày 19/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình quyết định truy tố bị cáo Đỗ Văn V về tội:“trộm cắp tài sản“ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu giải quyết về dân sự.

Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử : Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn V từ 08 tháng đến 10 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi6A màu đen bạc đã qua sử dụng có số sim 0886402118 và số sim 0862905376. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo gồm: 01 áo phông cộc tay, 01 quần đùi tối màu, 01 đôi dép lê màu đen, vàng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu đen đã qua sử dụng có số sim 0778431911.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn V không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp khớp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13h30’ ngày 08/07/2021, tại khu vực đầu ngách 61/127 PX phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Đỗ Văn V đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda Wave mang BKS 89K7 - 9565 (trị giá 5.000.000 đồng) đằng sau có 01 khung giá chở hàng đã qua sử dụng (trị giá 300.000 đồng); Tài sản có tổng trị giá 5.300.000 đồng của anh Nguyễn Văn T thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Đỗ Văn V đã xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác; Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo Đỗ Văn V đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đỗ Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án tiền sự nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có nơi ở ổn định, không thể tự cải tạo nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự.

. Về xử lý vật chứng: Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu đen đã qua sử dụng có số sim 0778431911;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi6A màu đen bạc đã qua sử dụng có số sim 0886402118 và số sim 0862905376;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc áo phông cộc tay dạng có cổ màu hồng nhãn hiệu Adidas, 01 (một) chiếc quần đùi tối màu, 01 (một) đôi dép lê màu đen - vàng.

. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án : Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn V 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn tù tính từ ngày 08/07/2021.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu đen đã qua sử dụng có số sim 0778431911;

Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi6A màu đen bạc đã qua sử dụng có số sim 0886402118 và số sim 0862905376;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc áo phông cộc tay dạng có cổ màu hồng nhãn hiệu Adidas, 01 (một) chiếc quần đùi tối màu, 01 (một) đôi dép lê màu đen - vàng.

(Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thanh phố Hà nội theo Biên bản giao vật chứng số 05 ngày 12 tháng 10 năm 2021).

3. Về án phí : Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ