- Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Siêu Th bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 251/2020/HS-PT Ngày: 20-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán
Ông Trần Văn Mười
Bà Phạm Thị Dên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2020/TLPT-HS ngày 07 tháng 1 năm 2020. Do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H và bị cáo Châu Siêu Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 494/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:
1. Đoàn Thanh H (tên gọi khác: không có); giới tính: nam; sinh năm: 1998, tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: đường Xóm Ch, Phường 15, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Ấp Tân Đ, xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tiến C - sinh năm: 1956 và bà Đoàn Kim P - sinh năm: 1960; Bị cáo có vợ là Nguyễn Hoài T - sinh năm: 1998 và có 01 con là Nguyễn Đoàn Gia B - sinh năm: 2018; Tiền án: không; tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam từ ngày 17/5/2019.
Ngày 14/02/2020, bị cáo H có đơn xin rút kháng cáo. Tại Thông báo số 26/2020/TB-TA ngày 27/02/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có văn bản về việc rút kháng cáo của bị cáo H.
2. Châu Siêu Th; giới tính: nam; sinh năm: 1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường Lương Hữu K, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: đường Lê Văn L, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Châu Văn B1 (đã chết) và bà Võ Thị Thanh H (chưa rõ năm sinh, bị cáo khai là 1956); Bị cáo có vợ là Nguyễn Huỳnh Ngọc Th1 - sinh năm: 1990 và có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2011); Tiền án: không; tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 17/5/2019. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Thanh H và Châu Siêu Th có quan hệ bạn bè quen biết nhau từ năm 2017 do cùng làm nhân viên giao hàng của Công ty Foody Now tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng tháng 4/2019, do cần tiền tiêu xài nên H rủ Th lên mạng xã hội tìm mua các xe gắn máy do người khác phạm tội mà có (giá rẻ hơn một nửa so với thị trường, không có giấy tờ), sau đó đặt làm giả biển số và giấy tờ xe bán lại cho người khác lấy tiền chia nhau tiêu xài. H có nhiệm vụ lên mạng tìm mua xe gắn máy, tìm người đặt làm giả biển số, giấy tờ xe và rao bán trên mạng xã hội; Th có nhiệm vụ chở H đi thỏa thuận mua xe và đi bán xe lại cho người khác. Cụ thể, H và Th đã thực hiện các vụ như sau:
Vụ thứ 01: Khoảng 13 giờ ngày 01/5/2019, H đã sử dụng điện thoại di động truy cập vào nhóm “Hội mua bán xe noop” trên mạng xã hội (Facebook) thấy có bài đăng bán xe Honda hiệu Future FI không có giấy đăng ký xe với giá 7.800.000 đồng cùng số điện thoại người bán. H liên lạc với người bán (đối tượng nam, không rõ lai lịch) trả giá xuống còn 6.800.000 đồng và hẹn đến khu vực chợ Hòa Hưng, phường 15, Quận 10 (trước số 5-7 chợ Hòa Hưng) để xem xe. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Th chở H đến điểm hẹn gặp người bán, sau khi xem xe, H đồng ý mua và đưa cho người bán xe số tiền 6.800.000 đồng rồi điều khiển xe gắn máy hiệu Future FI về nhà cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H liên lạc với đối tượng D (không rõ lai lịch) để đặt làm giả giấy đăng ký xe với giá 800.000 đồng và biển số xe với giá 400.000 đồng. H gửi thông tin chủ xe là họ tên, địa chỉ thật của H, số khung số máy thực tế của xe và biển số 59C1-140.78 (do H tự nghĩ ra) qua facebook cho D. Ngày 03/5/2019, D giao giấy đăng ký xe giả cho H qua dịch vụ giao hàng nhanh Viettel. Đến ngày 04/5/2019, D nhắn mã đơn hàng, H và Th đến Bưu điện trên đường Phó Đức Chính, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1 để trả tiền và nhận biển số giả 59C1-140.78, đồng thời H đề nghị D làm thêm 01 giấy đăng ký xe giả biển số 59C1-140.78 do giấy đăng ký xe H nhận trước đó in không rõ thì D đồng ý. Sau đó, D gửi thêm cho H 01 giấy đăng ký giả xe gắn máy biển số 59C1-140.78. Sau khi nhận biển số giả, H tháo biển số cũ của xe gắn máy hiệu Future FI ra và gắn biển số giả 59C1-140.78 vào sử dụng, còn biển số cũ H đưa cho Th vứt bỏ tại thùng rác khu vực công viên 23/9, Quận 1 (bút lục 97-100, 108-111).
Khoảng 1 tuần sau, H đăng tin bán xe gắn máy hiệu Future FI nêu trên vào các nhóm trên mạng xã hội với giá 15.000.000 đồng thì ông Trần Quốc C1 liên lạc với H để mua xe. H cung cấp thông tin cho ông C1 biết xe hiệu Future FI là xe mua lại của người quen nhưng chưa sang tên và nhắn số điện thoại của Th qua cho ông C1 và nói là số điện thoại chủ xe để ông C1 liên lạc kiểm tra thông tin. Ông C1 gọi cho Th xác nhận thì Th tự xưng là chủ xe cũ và chụp gửi căn cước công dân của H cùng giấy đăng ký xe giả để ông C1 tin tưởng xe chính chủ. Ông C1 đồng ý mua xe với giá 15.000.000 đồng và hẹn tại khu vực cổng Công viên văn hóa Đầm Sen, Quận 11 (trước số 03 Hòa Bình, phường 3, Quận 11) để giao dịch. Đến khoảng 14 giờ ngày 13/5/2019, Th điều khiển xe máy trên chở H đến gần khu vực Đầm Sen thì H xuống xe, Th và H đổi điện thoại cho nhau. Th lấy điện thoại của H để liên lạc với ông C1 hẹn đến trước số 03 đường Hòa Bình. Khi gặp ông C1, Th đưa giấy đăng ký xe mang tên Đoàn Thanh H cho ông C1 xem. Ông C1 trả giá xe xuống còn 14.500.000 đồng thì Th đồng ý bán, ông C1 trả trước 13.000.000 đồng và hẹn khi nào Th đưa chủ xe cũ tên H là người đứng tên trên giấy đăng ký xe ra công chứng sang tên sẽ thanh toán hết số tiền còn lại. Đồng thời, Th đưa căn cước công dân của Th cho ông C1 chụp lại. Sau khi bán xe cho ông C1, H và Th cùng đón xe ôm đi về nhà, cả hai thống nhất sẽ không chia tiền lời mà để lại làm vốn tiếp tục mua xe (bút lục 106-107).
Tại Kết luận giám định số 3302/KLGĐ-X(Đ3) ngày 21/5/2019 của Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Xe gắn máy biển số 59C1-140.78, số khung: RLHJC535XDY008047, số máy: JC54E1014332 có số khung, số máy nguyên thủy, không thay đổi.
Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ và đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh được biết: Xe mô tô số khung: RLHJC535XDY008047, số máy: JC54E1014332, nhãn hiệu Future FI có biển số 64D1-145.55 do ông Nguyễn Thanh H1 (địa chỉ Phú Th, Trung N, Vũng Liêm, Vĩnh Long) đứng tên chủ sở hữu.
Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh được biết: biển số 59C1-140.78 là của xe gắn máy nhãn hiệu Nouvo, số khung: Y-064866, số máy: 2B52-064866 do ông Trần Ngọc Th2 (địa chỉ đường Đoàn Văn B, phường 9, quận 4) đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành mời ghi lời khai đối với ông Trần Ngọc Th2 nhưng ông Th2 không đến làm việc.
Qua xác minh tại Công an phường 12, Quận 6 được biết: Ngày 17/5/2019, Công an phường có tiếp nhận tố giác của ông Nguyễn Thanh H1 về việc bị mất trộm xe gắn máy biển số 64D1- 145.55 tại trước nhà địa chỉ đường Hồng B, phường 12, quận 6 vào ngày 21/4/2019.
Tại Cơ quan điều tra, ông H1 trình bày: Khoảng năm 2013, ông H1 có mua xe gắn máy Future FI biển số 64D1-145.55 và đứng tên chủ sở hữu. Ngày 21/4/2019, vợ ông H1 sử dụng xe gắn máy trên, khi dựng xe trước nhà tại địa chỉ đường Hồng B, phường 12, quận 6 thì bị trộm cắp. Do bận công việc nên đến ngày 17/5/2019, vợ chồng ông H1 mới đến Công an phường 12, quận 6 trình báo sự việc.
Ngày 01/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã thông báo thông tin về tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 6 biết để phối hợp điều tra và tiếp nhận vật chứng là xe gắn máy nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 968/KLGĐ-TT ngày 24/5/2019 của Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Hình dấu, bản in trên “Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy” trên 02 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009341 mang tên Đoàn Thanh H, biển số 59C1-140.78 được làm giả bằng phương pháp in phun màu; Chữ ký mang tên Lê Văn H2 trên 02 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009341 mang tên Đoàn Thanh H, biển số 59C1-140.78 so với chữ ký mẫu so sánh tương ứng lưu tại Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh không phải do cùng một người ký ra.” (bút lục 40A-40B)
Kết luận định giá tài sản số 4625/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố kết luận: xe gắn máy Future FI nêu trên có giá 16.530.000 đồng (bút lục 46).
Vụ thứ 02: Sau khi mua xe gắn máy Honda Future FI khoảng một tuần, H sử dụng điện thoại truy cập vào nhóm “Hội mua bán xe noop” trên mạng xã hội Facebook thấy có tài khoản đăng bán xe Honda Vision không có giấy đăng ký xe với giá 14.000.000 đồng cùng số điện thoại người bán. H liên lạc với người bán (đối tượng nam, không rõ lai lịch) và hẹn đến công viên Lê Thị Riêng, phường 15, Quận 10 để giao dịch (trước địa chỉ số 875 Cách Mạng Tháng Tám). Khoảng 13 giờ cùng ngày, Th điều khiển xe gắn máy Future FI biển số 59C1-140.78 chở H đến điểm hẹn để giao dịch. Sau khi xem xe và đồng ý mua, H đưa cho người bán 14.000.000 đồng. Người bán giao cho H xe Vision biển số 59E1 - 340.87. Sau đó, H tiếp tục liên lạc với đối tượng D để đặt làm giả biển số, giấy đăng ký xe với giá tổng cộng 1.200.000 đồng. H gửi thông tin chủ xe là họ tên, địa chỉ thật của H, số khung số máy thực tế của xe và biển số 59C1-228.86 (do H tự nghĩ ra) qua facebook cho D. Sau đó, D có gửi cho H giấy đăng ký giả và biển số giả 59C1-228.86 cho H qua các dịch vụ chuyển phát thu tiền hộ của Viettel và Vietnam Post. H tháo bỏ biển số cũ của xe gắn máy Vision tại nhà trọ, gắn biển số 59C1-228.86 vào rồi sử dụng xe gắn máy này làm phương tiện đi lại. Sau đó, do sợ bị phát hiện nên H đem xe máy trên đến gửi tại nhà trọ của Th để cất giấu.
Tại Kết luận giám định số 3286/KLGĐ-X(Đ3) ngày 21/5/2019 của Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Xe gắn máy biển số 59C1-228.86, số máy: JF66E0242248, số khung: RLHJF5810GY242232 có số khung, số máy nguyên thủy, không thay đổi.
Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh được biết: Xe gắn máy có số máy: JF66E0242248, số khung: RLHJF5810GY242232, nhãn hiệu Honda Vision có biển số 61B1-894.94, do ông Huỳnh Văn H3 (địa chỉ: phường Tương Bình H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương) đứng tên chủ sở hữu.
Tại Cơ quan điều tra, ông Huỳnh Văn H3 và Huỳnh Văn V cùng trình bày: Xe Honda Vision biển số 61B1-894.94 do ông H3 mua, đứng tên chủ sở hữu và để cho gia đình sử dụng. Ngày 01/5/2019, con trai ông H3 là Huỳnh Văn V có cầm cố xe máy trên cho người bạn tên Trần Anh Th3 (không rõ lai lịch) tại Thuận An, Bình Dương với giá 4.000.000 đồng nhưng sau đó Thuận lấy xe bỏ đi đâu không rõ.
Tại Bản kết luận giám định số 968/KLGĐ-TT ngày 24/5/2019 của Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Hình dấu, bản in trên “Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy” trên giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009341 mang tên Đoàn Thanh H, biển số 59C1-228.86 được làm giả bằng phương pháp in phun màu; Chữ ký mang tên Lê Văn H2 trên giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009341 mang tên Đoàn Thanh H, biển số 59C1-228.86 so với chữ ký mẫu so sánh tương ứng lưu tại Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh không phải do cùng một người ký ra.”
Kết luận định giá tài sản số 4625/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố kết luận: xe gắn máy Honda Vision nêu trên có giá 25.966.667 đồng.
Vụ thứ 03: Khoảng 09 giờ ngày 16/5/2019, H sử dụng điện thoại truy cập vào nhóm “Hội mua bán xe noop” trên mạng xã hội Facebook thì thấy có tài khoản “Hangnguyen” đăng bán xe gắn máy Honda Click không có giấy tờ với giá 21.000.000 đồng. H liên lạc qua facebook thì đối tượng “Hangnguyen” hẹn giao xe tại Bến xe quận 8. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Th điều khiển xe gắn máy Wave biển số 59L1-613.70 chở H đến một quán cà phê gần khu vực bến xe quận 8 (trước số 957 Tạ Quang Bửu, phường 6, Quận 8) để xem xe. Tại đây, H và Th gặp người bán xe (đối tượng nam, không rõ lai lịch) đến giao xe gắn máy hiệu Click biển số 59V2-391.02. Sau khi xem xe, H và Th trả giá xuống còn 20.000.000 thì đối tượng đồng ý bán. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô Wave, còn H điều khiển xe gắn máy Click trên đi về nhà trọ của Th cất giấu. Khi cả hai đi đến trước số 91 Tạ Quang Bửu, phường 5, Quận 8 thì bị trinh sát Phòng Cảnh sát hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, thu giữ các xe gắn máy, giấy tờ xe và mời về làm việc. Mục đích H và Th mua chiếc xe trên về là để làm giả giấy tờ, biển số xe giả để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Tại Bản kết luận giám định số 3288/KLGĐ-X(Đ3) ngày 21/5/2019 của Phòng KTHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Xe gắn máy biển số 59V2-391.02 số khung: MLHJF3503F5218178, số máy: JF350E0218178 có số khung, số máy nguyên thủy, không thay đổi.
Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh được biết: Xe gắn máy có biển số 59V2-391.02, số khung: MLHJF3503F5218178, số máy: JF350E0218178, nhãn hiệu Honda Click do ông Hồ Hoàng B (địa chỉ: đường số 9, phường 16, quận Gò Vấp) đứng tên chủ sở hữu.
Tại Cơ quan điều tra, ông Hồ Hoàng B trình bày: Khoảng tháng 01/2016, ông B có mua xe gắn máy Honda Click biển số 59V2-391.02 và đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/4/2019, ông B cho con dâu là Tạ Thái Minh H4 mượn xe đi chợ, sau đó chị H4 dựng xe trước nhà tại địa chỉ số đường Lê L, phường 4, quận Gò Vấp thì bị trộm cắp nên đến Công an phường 4, quận Gò Vấp trình báo.
Xác minh tại Công an phường 4, quận Gò Vấp được biết: Ngày 10/5/2019, Công an phường có tiếp nhận tố giác của chị Tạ Thái Minh H4 (sinh năm: 1984; HKTT: đường Lê L, phường 4, quận Gò Vấp) trình báo về việc bị mất trộm xe gắn máy nhãn hiệu Click biển số 59V2-391.02 tại trước nhà địa chỉ 142/3/15 Lê Lợi, phường 4, quận Gò Vấp vào ngày 28/4/2019.
Ngày 01/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã thông báo thông tin về tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp biết để phối hợp điều tra và tiếp nhận vật chứng là xe gắn máy nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 4625/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố kết luận: xe gắn máy Honda Click nêu trên có giá 40.058.333 đồng.
Quá trình điều tra, Đoàn Thành H và Châu Siêu Th khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Khám xét nơi ở của H và Th Cơ quan điều tra đã thu giữ xe gắn máy hiệu Honda Vision cùng các giấy tờ xe liên quan. Đồng thời, ông Trần Quốc C1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe Honda hiệu Futurer FI biển số 59C1-140.78 và giấy tờ xe giả mang tên Đoàn Thanh H.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 494/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174; điểm a khoản 2 Điều 323; các điểm a, b, d khoản 2 Điều 341; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Châu Siêu Th: 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/5/2019.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 11/12/2019, bị cáo Châu Siêu Th có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định. Về nội dung vụ án đúng như chủ tọa phiên tòa tóm tắt. Quá trình điều tra, xét xử ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay cho thấy bị cáo Th đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng mức hình phạt dưới khung theo quy định là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th không có tình tiết mới để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 494/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Châu Siêu Th trong hạn luật định nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về trường hợp của bị cáo Đoàn Thanh H có đơn kháng cáo ngày 06/12/2019 nhưng đến ngày 14/02/2020 có đơn xin rút đơn kháng cáo nên Tòa án đã có Thông báo số 26/2020/TB-TA ngày 27/02/2020 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo H và không triệu tập.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Châu Siêu Th:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Châu Siêu Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo Đoàn Thanh H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể vào khoảng tháng 4/2019, do cần tiền tiêu xài nên Đoàn Thanh H rủ Th lên mạng xã hội Facebook tìm mua các xe gắn máy do người khác phạm tội mà có (giá rẻ hơn một nửa so với thị trường, không có giấy tờ), sau đó đặt làm giả biển số và giấy tờ xe bán lại cho người khác lấy tiền chia nhau tiêu xài. H có nhiệm vụ lên mạng tìm mua xe gắn máy, tìm người đặt làm giả biển số, giấy tờ xe và rao bán trên mạng xã hội; Th có nhiệm vụ chở H đi thỏa thuận mua xe và đi bán xe lại cho người khác.
Từ những hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đoàn Thanh H và Châu Siêu Th phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174; điểm a khoản 2 Điều 323; các điểm a, b, d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
[2.2] Hội đồng xét xử nhận thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức và xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có, gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Xét đến tính chất cũng như hậu quả của các hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong vụ án này, bị cáo Th có vai trò đồng phạm giúp sức nên khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để đưa ra mức án cho bị cáo.
Cụ thể, hành vi phạm tội của bị cáo Th có tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên và sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm nghiêm trọng. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông Nguyễn Tiến C1 (cha ruột của bị cáo H) đã thay mặt cho bị cáo bồi thường cho ông Trần Quốc C1 số tiền 13.000.000 đồng và ông C1 đã làm đơn bãi nại cho các bị cáo H và Th, các tài sản mà bị cáo phạm tội đã được thu hồi, nên xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Th có từ 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên áp dụng cho bị cáo khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xem xét cho bị cáo một mức án dưới khung đối với tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Từ những tình tiết trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt thấp nhất và dưới khung hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Châu Siêu Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết mới, do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Châu Siêu Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Siêu Th. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 494/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Th.
1/ Tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174; điểm a khoản 2 Điều 323; các điểm a, b, d khoản 2 Điều 341; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Châu Siêu Th: 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/5/2019.
2/ Các Quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Công an TP. Hồ Chí Minh; - Sở tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam CA. TP. Hồ Chí Minh; - Bị cáo (1); - Lưu HSVA(2).VP(6)18b. (LTTT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Đắc Minh |