vanban.org

Bản án 250/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-11-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩmphán-Chủtọaphiêntòa:Ông Lâm Thành Quang

CácHộithẩmnhândân:

Bà Đỗ Mỹ Lil

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

-Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký viên, Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 256/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

-Nguyênđơn: Chị Hồ Thị L, sinh ngày 20/02/1996, đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Số CCCD xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 24/6/2022.

-Bịđơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/4/1992, vắng mặt.

Số CMND xxxxxxxxx, cấp ngày 24/6/2013.

Cùng địa chỉ cư trú ấp R, xã S, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Hồ Thị L trình bày:

Về hôn nhân:

Nguyên đơn và anh T xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau ngày 11/8/2016.

Quá trình sống chung, thời gian đầu sống hạnh phúc, nhưng về sau vợ chồng không còn hạnh phúc, do bất đồng quan điểm.

Nay, nguyên đơn nhận thấy không thể tiếp tục cùng anh T sống chung, yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 02 người con chung:

+ Nguyễn Tấn B, sinh ngày 14/3/2014 (giới tính: Nam).

+ Nguyễn Tấn A, sinh ngày 27/02/2021 (giới tính: Nam).

Khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu được quyền nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng: Nguyên đơn yêu cầu yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các cháu mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng/cháu/tháng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

- Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Biên bản làm việc về việc ghi nhận ý kiến của chị Hồ Thị L ngày 28/11/2025, chị L trình bày:

Nguyên đơn giữ y ý kiến về hôn nhân, tài sản, nợ, thay đổi yêu cầu bề con chung, do hiện nay 02 cháu đang sống chung với anh T ổn định, nguyên đơn có đến nhà dẫn cháu Nguyễn Tấn B để đến Toà án ghi nhận nguyện vọng của cháu, nhưng gia đình bên nội không cho. Do đó, nguyên đơn đồng ý giao 02 cháu cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, nguyên đơn không cấp dưỡng.

Nay, nguyên đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Từ khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Tại phiên toà, chị L vắng mặt nhưng đã có đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, còn anh Thanh vắng M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Saukhinghiêncứucáctàiliệucótronghồsơvụánđượcthẩmtratạiphiên tòavàcăncứvàokếtquảtranhluậntạiphiêntòa,Hộiđồngxétxửnhậnđịnh:

Về tố tụng:

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự:

Nguyên đơn chị Hồ Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cần xét xử các đương sự nêu trên, là phù hợp.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú ấp R, xã S, tỉnh Cà Mau.

Từ đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 11/8/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau cấp, thể hiện chị L và anh T có đăng ký kết hôn. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị L xác định hôn nhân giữa chị và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được, cho nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh T.

Đối với anh Thanh vắng M, không tham gia tố tụng tại Toà án, điều đó cho thấy anh T đã không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với chị L.

Tại Đơn xin vắng mặt ngày 08/9/2025 và tại Biên bản làm việc về việc ghi nhận ý kiến của chị Hồ Thị L ngày 28/11/2025, chị L kiên quyết ly hôn với anh T.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau. Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: “Điều 4. Ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng;”.

Xét, hôn nhân giữa chị L và anh T đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu khởi kiện của chị L là có căn cứ được chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh T phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung:

Theo chị L xác định, vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Tấn B, sinh ngày 14/3/2014 (giới tính: Nam) và cháu Nguyễn Tấn A, sinh ngày 27/02/2021 (giới tính: Nam), hiện các cháu sống chung với anh T. Khi ly hôn, chị L đồng ý giao 02 cháu cho anh T được quyền nuôi dưỡng các cháu đến tuổi trưởng thành.

Xét, riêng cháu Nguyễn Tấn B tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 28/11/2025 cháu B trên 07 tuổi, phải ghi nhận nguyện vọng của cháu theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại Biên bản làm việc về việc ghi nhận ý kiến của chị Hồ Thị L ngày 28/11/2025, chị L xác định có đến nhà cha mẹ bên chồng anh T, dẫn cháu B để đến Toà án ghi nhận nguyện vọng của cháu, nhưng gia đình bên chồng không cho. Do đó, chị L đồng ý giao 02 cháu cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng.

Đối với anh Thanh vắng M nên không có cơ sở xem xét.

Xét vì lợi ích của con chung, đảm bảo ổn định trong cuộc sống, cần giao cháu B và cháu A cho anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị L xác định, chị đồng ý giao 02 cháu cho anh T được quyền nuôi dưỡng, chị không có cấp dưỡng. Đối với anh Thanh vắng M, nên không có cơ sở để xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về tài sản, nợ: Chị L không có yêu cầu, còn anh Thanh vắng M, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, chị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 55, 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyênxử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Lưỡng .

1. Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn B, sinh ngày 14/3/2014 (giới tính: Nam) và cháu Nguyễn Tấn A, sinh ngày 27/02/2021 (giới tính: Nam), cho anh Nguyễn Văn T được quyền trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 (mười tám) tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà chị L nộp tại Biên lai thu 0001609 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

TrườnghợpquyếtđịnhđượcthihànhtheoquiđịnhtạiĐiều2Luậtthihành ándânsựthìngườiđượcthihànhándânsự,ngườiphảithihànhándânsựcó quyềnthoảthuậnthihànhán,quyềnyêucầuthihànhán,tựnguyệnthihànhán hoặcbịcưỡngchếthihànhántheoquiđịnhtạicácĐiều6,7,7a,7bvà9Luậtthi hànhándânsự;thờihiệuthihànhánđượcthựchiệntheoquiđịnhtạiĐiều30Luật thihànhándânsự.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị L và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ