vanban.org

Bản án 250/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Nguyễn Văn M.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 08/3/2012 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao con chung tên là N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRanh chấp ly hôn Hòa - Mỹ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07/4/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đúng.

2. Ông Lại Hữu Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 758/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1993 – Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 – Vắng mặt.

Địa chỉ: xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 23/06/2022, bản tự khai ngày 19/10/2022, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 19/10/2022 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 19/10/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 08/3/2012 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2012, quyển số 01/2012. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, ông M sống không có trách nhiệm với vợ con, từng đánh vợ con. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn. Bà H và ông M đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

Về con chung: Bà H và ông M chung sống chỉ có 01 con chung tên là Nguyễn Hưng T (nam), sinh ngày 24/12/2011. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con do bà H có khả năng. Trẻ T sống cùng bà H kể từ lúc ly thân đến nay tại Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim H xác nhận quá trình chung sống vợ chồng bà không có tài sản chung, cũng không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn M vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Nguyễn Văn M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn M. Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh ngày 19/10/2022 do Công an xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì ông Nguyễn Văn M hiện đang cư trú tại địa chỉ: xã L, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

+ Ông Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn M.

+ Bà Nguyễn Thị Kim H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim H.

[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 08/3/2012 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Kim H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn M chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức đám cưới và hai bên tự tìm hiểu trước khi kết hôn. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, ông M sống không có trách nhiệm với vợ con, từng đánh vợ con. Hạnh phúc vợ chồng không còn dù bà H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn. Bà H và ông M đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay. Mục đích hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M đã không còn, bà H không muốn chung sống với ông M nữa.

Căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình của bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M thì được biết: “Trường hợp của bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M địa phương không nắm rõ”.

Ông Nguyễn Văn M dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản thể hiện yêu cầu của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, ông Nguyễn Văn M cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Nguyễn Thị Kim H. Như vậy, ông Nguyễn Văn M đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên ông Nguyễn Văn M phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét nhận thấy việc bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn M là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Nguyễn Văn M.

Về con chung:

Căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị Kim H thì: Quá trình chung sống, Bà Nguyễn Thị Kim H và Ông Nguyễn Văn M có 01 con chung tên là Nguyễn Hưng Thịnh (nam), sinh ngày 24/12/2011. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con do bà H có khả năng. Trẻ Thịnh sống cùng bà H kể từ lúc ly thân đến nay tại Thôn An Xuân 2, xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn M vắng mặt, không có bất kỳ văn bản nào trình bày nguyện vọng về con chung khi ly hôn.

Xét thấy nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Kim H về con chung là phù hợp và cũng thuận lợi nhất cho trẻ vì bà Nguyễn Thị Kim H là mẹ lại gần gũi và chăm sóc con từ nhỏ nên bà Nguyễn Thị Kim H có đầy đủ điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn ông Nguyễn Văn M.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim H về con chung: Giao trẻ Nguyễn Hưng T (nam), sinh ngày 24/12/2011 cho bà Nguyễn Thị Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con vì bà H có khả năng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim H xác định bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M chung sống không có tài sản chung, không nợ ai.

Ông Nguyễn Văn M vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Tòa hôm nay, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M.

Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Nguyễn Văn M.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 08/3/2012 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Hưng T (nam), sinh ngày 24/12/2011 cho bà Nguyễn Thị Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Văn M do bà Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim H xác định bà H và ông M chung sống không có tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim H xác định bà H và ông M chung sống không nợ ai. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0041471 ngày 11/07/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Kim H đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ