- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tấn L, Nguyễn Minh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 250/2022/HSST Ngày 20-09-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vững – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 09 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213/2022/HSST ngày 30 tháng 08 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 09 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Võ Tấn L, sinh ngày 02-12-2000 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị Thu T; vợ: Phạm Trần Thị Ngọc T; có một con sinh năm 2022; Tiền sự - Tiền án: không; bị bắt ngày 23 tháng 06 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( bị cáo có mặt).
2. Nguyễn Minh H, sinh ngày 04-04-1998 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: phụ bếp; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn D và bà Võ Thị N; Tiền sự - Tiền án: không; bị bắt ngày 11 tháng 06 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( bị cáo có mặt).
Bị hại: Anh Lê Hoàng Minh T, sinh năm 2001- Địa chỉ: Thôn H, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
1. Anh Mai Thanh L, sinh năm 2000 - Địa chỉ: Thôn B, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1973 - Địa chỉ: Thôn S, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( có mặt).
3. Bà Võ Thị N, sinh năm 1973 - Địa chỉ: Thôn N, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( có mặt).
Người làm chứng:
1. Anh Phạm Quang T, sinh năm 1993 – Địa chỉ: Số 768 B, phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1964 - Địa chỉ: Số 768 B, phường M, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước với anh Lê Hoàng Minh T, nên khoảng 16 giờ 15 phút ngày 09-06-2022, Võ Tấn L gọi điện thoại rủ Nguyễn Minh H đi tìm Tr để đánh Tr thì H đồng ý. Khoảng hơn 30 phút sau, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 72C2 – 417.08 đến tiệm game ở thôn M, xã L gặp H, H điều khiển xe chở L ngồi sau đi tìm anh Tr.
Khi đi ngang sân bóng đá “Lê Siêm” ở thôn M, xã L, thành phố V, cả hai nhìn thấy Tr. L bàn với H đi lấy hung khí để chém Tr, H đồng ý. Cả hai đến nhà Mai Thanh L ở thôn 4, xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu. Đến nơi, H đứng chờ ngoài đường, L vào gặp Lâm hỏi mượn cây dao dài khoảng 68 cm, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn, cán bằng gỗ. L giấu con dao này vào áo khoác rồi ra xe H chở đến sân bóng “Lê Siêm”. Khi đến nơi, cả hai xuống xe, H lao vào dùng tay đánh, đấm anh Tr; L rút dao trong người ra chém liên tiếp nhiều nhát vào người anh Tr gây thương tích. Khi thấy người dân tập trung đông, H và L bỏ về nhà, L đem con dao về cất giấu bên hông nhà mình, rồi bỏ trốn đến tỉnh Bình Dương.
Ngày 11-06-2022, Nguyễn Minh H đến Công an xã L đầu thú. Ngày 23-06-2022, Võ Tấn L đến Cơ quan điều tra đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Võ Tấn L và Nguyễn Minh H đều khai nhận hành vi phạm tội như trên và giao nộp hung khí gây án.
Kết luận giám định thương tích số 251/TgT ngày 23-06-2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận thương tích đối với Lê Hoàng Minh Tr:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết thương cẳng tay chưa lành thương, khả năng lành sẹo trung bình.
- 01 vết thương hông lưng chưa lành thương, khả năng lành sẹo nhỏ.
- Gãy dài quay trái, còn đinh kết hợp xương. Hạn chế vận động gấp – duỗi khuỷ tay, hạn chế vận động sấp- ngửa cẳng tay, chưa teo cơ, chưa cứng khớp.
2. Về đặc điểm vật gây ra thương tích, cơ chế:
- Thương tích 1: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “vết chém hay băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị Tr thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước.
- Thương tích 2: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “vết chém hay băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị Tr thương tích theo chiều hướng từ trái sang phải.
3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 25%.
Bản cáo trạng số 180/CT-VKSVT ngày 29-08-2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Võ Tấn L, Nguyễn Minh H về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 54, 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo L mức án từ 12 đến 15 tháng tù giam, xử phạt bị cáo H mức án từ 09 đến 12 tháng tù giam.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; các bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố Vũng Tàu và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo xác định vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 09-06-2022, tại sân bóng đá “Lê Siêm” thuộc thôn M, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; bị cáo L đã thực hiện hành vi sử dụng hung khí là một con dao tự chế có chiều dài 68cm, cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 46cm, mũi nhọn chém nhiều nhát vào người bị hại; bị cáo H thực hiện hành vi dùng tay đấm vào người bị hại gây ra thương tích với tỷ lệ 25%.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và người bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Xét các bị cáo và bị hại đã mâu thuẫn từ trước nên không áp dụng tình tiết định khung phạm tội có tính chất côn đồ đối với các bị cáo. Vì vậy, hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
. Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo mặc dù thống nhất trước việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng sự cấu kết chưa đến mức chặt chẽ, nên hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo L có vai trò khởi xướng, rủ rê bị cáo H phạm tội; bị cáo L chuẩn bị công cụ gây án và trực tiếp gây thương tích cho bị hại. Bị cáo H mặc dù chỉ dùng tay đánh anh Tr, nhưng bị cáo H cũng phải cùng chịu chung trách nhiệm đối với hậu quả thương tích của bị hại. Xem xét vai trò từng bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sức khỏe của người bị hại; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tự giác ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; cơ quan chức năng tại địa phương xác nhận gia đình bị cáo L có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo H đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự đối với nhà nước; nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại xác định gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 80.000.000đ, không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người liên quan bà Nguyễn Thị Thu T (mẹ bị cáo L), bà Võ Thị N ( mẹ bị cáo H) bồi thường thay cho các bị cáo; không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số 72C2 – 417.08 do Võ Tấn L đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Nhưng đây là tài sản của bà Nguyễn Thị Thu T (mẹ bị cáo L) nhờ L đứng tên giúp. Bà T không biết việc L sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, nên trả lại chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Thu T.
- 01 con dao tự chế chiều dài 68cm, lưỡi bằng kim loại dài 46cm, mũi nhọn; cán dao dài 22 cm, phần cán bọc gỗ kích thước 17,5 x 3 x 2 cm; dao cũ đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng, bị cáo L sử dụng làm công cụ phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn L, Nguyễn Minh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
2. Áp dụng : Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt Võ Tấn L 01 ( một ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 06 năm 2022.
- Xử phạt Nguyễn Minh H 09 ( chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 06 năm 2022.
3. Xử lý vật chứng :
- Tịch thu tiêu hủy một con dao tự chế chiều dài 68cm, lưỡi bằng kim loại dài 46cm, mũi nhọn; cán dao dài 22 cm, phần cán bọc gỗ kích thước 17,5 x 3 x 2 cm.
- Trả lại xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số 72C2 – 417.08 cho bà Nguyễn Thị Thu Thủy.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 230/BB-CCTHADS ngày 31-08-2022.
5. Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND TP. Vũng Tàu; - Công an TP. Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu; - Nhà tạm giữ Công an TP. Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |