- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------------------------------- Bản án số:250/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-4-2022 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Thịnh Quang Thắng.
Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Tuấn Anh
2/ Bà Ngô Thị Yêm
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 29/4/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 567/2021/TLST – HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2021 về việc “tranh chấp ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/3/2022. Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2022/QĐST ngày 12/4/2022. Giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị X, sinh năm 1987; Cư trú tại thôn P, xã V, huyện Đ, Hà Nội; Có măt.
2. Bị đơn: Anh Trần Minh P, sinh năm 1975; Cư trú tại: thôn P, xã V, huyện Đ, Hà Nội; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/9/2022, các lời khai bổ sung, chị Hoàng Thị X - nguyên đơn trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân :Chị và anh Trần Minh P tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 22/12/2016 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn thì chúng chị thuê trọ tại Thôn P, xã V, huyện Đ, Hà Nội ở đến cuối năm 2017 thì chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị ở tại Thôn P, xã V, huyện Đ, Hà Nội đồng thời anh P cũng đã chuyển khẩu về chung sống cùng chị tại xã V, huyện Đ, Hà Nội. Vợ chồng chung sống ổn định đến ngày 08/5/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh P ham mê chơi bời, không tôn trọng chị và gia đình chị dẫn đến vợ chồng căng thẳng, không thể nói chuyện được với nhau và còn xúc phạm đánh chửi nhau cho đến cuối tháng 11/2021 thì do anh P nợ nhiều nên có nhiều người đến nhà đòi nợ và dọa đánh. Vì vậy, anh P đi ra ngoài thuê nhà trọ nhưng không cho chị biết ở đâu, chị cũng đã về nhà anh P ở Nam Định nhưng không gặp để vợ chồng nói chuyện với nhau và gia đình anh P cũng giấu không cho chị biết ở đâu. Nhà anh P có địa chỉ tại Xóm 7, thôn N, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, có bố đẻ là ông Trần Văn Đ, sinh năm 1956, mẹ là Lê Thị M, sinh năm 1956). Nay để ổn định cuộc sống và vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mâu thuẫn trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
- Về con chung: Chị xác định vợ chồng chị có 01 con chung là Trần Hoàng Trúc A, sinh ngày 20/10/2018. Hiện con chung ở với chị, ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định chúng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chị không trình bày hay kê khai gì.
* Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập nhiều lần anh Trần Minh P là bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng anh P không có mặt. Anh P đã vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết, hòa giải nên Tòa án không ghi được ý kiến của anh P.
Tại phiên tòa:
+ Chị X vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh P ; Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Trần Hoàng Trúc A, sinh ngày 20/10/2018, ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết và vấn đề cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì. Bị đơn không chấp quy định pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án nên cần kiến nghị, nhắc nhở.
- Về nội dung vụ án:
+ Sau khi phân tích các tình tiết nội dung của vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy căn cứ xin ly hôn của chị X là hợp pháp, việc chị X xin ly hôn là có căn cứ được chấp nhận.
+ Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Trần Hoàng Trúc A, sinh ngày 20/10/2018. Ly hôn, giao con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Chị X không yêu cầu xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
+ Về án phí: Chị X phải chịu cả
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật:
Chị X kết hôn với anh Trần Minh P ngày 22/12/2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Anh P hiện cư trú tại thôn N, xã V, huyện Đ, Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đến phiên tòa cho anh Trần Minh P, nhưng anh P vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án và không thực hiện thông báo giao nộp chứng cứ của Tòa án. Như vậy, anh P đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Toà án nhân dân huyện Đông Anh tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Minh P là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Hoàng Thị X và anh Trần Minh P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại X, huyện X, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chơi bời nợ nần. Vợ chồng chị X, anh P đã ly thân từ tháng 11/2021 đến nay. Nay chị X xin ly hôn, anh P không có quan điểm và không trình bày nguyện vọng.
Căn cứ tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương, gia đình chị X, anh P thể hiện: Anh chị có nhiều mâu thuẫn, đã ly thân. Bố đẻ anh P Hiện nay anh P đi làm ăn ở đâu không biết nhưng vẫn liên hệ về gia đình.
Xét thấy, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Gia đình hai bên cũng đã hòa giải vợ chồng nhưng anh chị không thể hàn gắn được mà vẫn mỗi người ở một nơi. Từ phân tích trên cho thấy mâu thuẫn giữa chị X và anh P đã quá căng thẳng và trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh P, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị X xin ly hôn với anh P là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật nên được chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị X, anh P có 01 con chung là Trần Hoàng Trúc A, sinh ngày 20/10/2018. Hiện nay cháu Trúc A đang ăn ở, học tập và sinh sống với chị X. Chị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Xét yêu cầu nuôi con của chị X: Hiện nay chị X vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu Trúc A đã ăn ở sinh sống ổn định với chị X và vẫn do chị X chăm sóc. Hiện nay cháu Trúc A còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Từ những căn cứ trên, căn cứ vào thực tế, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ về thể chất và tinh thần. Do đó, giao con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị X không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết việc cấp dưỡng nuôi chung cho đến khi nào các con thành niên hoặc có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị X phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị X đối với anh Trần Minh P. Chị Hoàng Thị X được ly hôn anh Trần Minh P.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Hoàng Trúc A, sinh ngày 20/10/2018 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị X không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai số AA/2020/0045830 ngày 01/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Chị X đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Án xử công khai sơ thẩm. Chị Hoàng Thị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Minh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS Đông Anh; - THA Đông Anh; - TAND thành phố Hà Nội; - UBND xã X; - Lưu hồ sơ; | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thịnh Quang Thắng |