vanban.org

Bản án 250/2021/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_________________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2021/HS-ST
Ngày: 11-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Đặng Thanh Giang

2. Bà Trần Thị Ngọc Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý

số: 170 2021 TLST-HS ngà 29 th ng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số: 281 2021 QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh năm 1988, tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký hộ khẩu

thường trú: tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp:

Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn

giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Th, năm sinh không rõ và

bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; Vợ Hồ Thị H, sinh năm 1995, có 01 con sinh

năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/8/2012 bị Tòa

án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm

cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2015. Bị cáo bị giam giữ từ

ngày 25/8/2020 và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số F

Địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Phan Bảo D, sinh năm 1994 (xin

vắng mặt)

Địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ n được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Trần Thanh T nả sinh ý định lén lút vào Cửa

hàng điện thoại di động “F shop”, địa chỉ số: 255 Đỗ Xuân Hợp, Tổ 1, Khu phố 4, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/8/2020, T một mình mang theo 01 ná thun, 06 viên bi sắt tròn thuê xe Grap đi từ Khu Công nghiệp Nam Tân Uyên, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đến gần Cửa hàng “F shop” thì xuống xe. T uống cà phê gần đó chờ đêm đến sẽ đột nhập cửa hàng trên tìm tài sản để chiếm đoạt. Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 25/8/2020, thấ trước cửa hàng vắng người, không có nhân viên bảo vệ trông coi nên T dùng tay kéo cửa cuốn bên ngoài cửa hàng lên, dùng ghế nhựa có sẵn bên ngoài cửa hàng kê vào đỡ cửa cuốn lại. Sau đó, T dùng ná, bi sắt bắn vào cửa kính bên trong cửa cuốn làm kính cửa bị nứt, rồi dùng chân đạp cửa kính bị nứt tạo thành một lỗ thủng để chui vào trong cửa hàng. Tại đâ , T dùng kéo có sẵn của cửa hàng cạy tủ trưng bày, lấ được một số điện thoại còn trong hộp mang vào khu vực bếp. T lấy dao thái lan trong bếp rọc từng hộp điện thoại rồi bỏ vào túi nilon màu trắng lấy bên trong cửa hàng. Khi T mang túi nilon đựng điện thoại chiếm đoạt được đi ra ngoài thì bị Công an phường Phước Long B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 08 điện thoại di động Iphone 11 Promax; 02 điện thoại

di động Iphone 11 Pro; 09 điện thoại di động Iphone 11 Pro; 01 điện thoại di động Vmast 3; 01 con dao thái lan gọt trái cây cán màu vàng; 02 cây kéo cán màu đen; 01 c i n thun màu x m; 04 viên bi kim loại và 01 ghế nhựa màu xanh.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 159-2020/KL-HĐĐGTS ngày

20/10/2020 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân Quận 9 trong tố tụng hình sự, kết luận: 20 điện thoại di động bị chiếm đoạt giá trị còn lại: 437.490.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 179-2020/KL-HĐĐGTS ngà

27/11/2020 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân Quận 9 trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 tấm cửa kính chất liệu kính cường lực 10mm, kích thước 1,8m x 3m có giá trị tài sản là 2.900.000 đồng.

Ngà 31 8 2020, Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an Quận 9 (na là Cơ

quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Thủ Đức) đã trả lại 08 điện thoại di động Iphone 11 Promax, 02 điện thoại di động Iphone 11 Pro, 09 điện thoại di động Iphone 11 Pro, 01 điện thoại di động Vmast 3 cho Công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT do anh Lâm Phan Bảo D là người đại diện nhận tài sản.

Tại Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Thủ Đức (nay là Cơ

quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Thủ Đức) Trần Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án: 01 con dao thái lan cán màu vàng, 01 cây kéo cán màu

đen, 01 c i n thun màu x m, 04 viên bi kim loại, 01 ghế nhựa màu xanh. Cơ

quan Cảnh s t điều tra Công an Quận 9 (nay là Cơ quan Cảnh s t điều tra Công

an thành phố Thủ Đức) đã nhập kho vật chứng theo theo Lệnh nhập kho vật

chứng số: 06/21 ngày 21/12/2020.

Về dân sự: Bị hại Công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số F yêu cầu Trần

Thanh T bồi thường số tiền 83.374.000 đồng, bao gồm giá trị phần trăm c c điện

thoại khi bị mất seal giảm 20% so với giá trị ban đầu và tiền cửa kính chất liệu

kính cường lực bị bắn bể.

Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 01 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tru tố Trần Thanh T

về tội “Trộm cắp tài sản” theo qu định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật

Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung

cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã tru tố, bị cáo

thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên Quyết

định truy tố đối với Trần Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích,

đ nh gi tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị c o, đại diện Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm điểm a khoản 3

Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ

sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 10 năm tù đến 11 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao thái lan cán màu vàng,

01 câ kéo c n màu đen, 01 c i n thun màu x m, 04 viên bi kim loại, 01 ghế

nhựa màu xanh.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Công ty Cổ phần Bán

lẻ Kỹ thuật số F số tiền 83.374.00 đồng (bao gồm giá trị phần trăm c c điện

thoại khi bị mất seal giảm 20% so với giá trị ban đầu và tiền cửa kính chất liệu

kính cường lực bị bắn bể).

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấ được hành vi của mình là sai

trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về đoàn tụ với

gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an

thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức,

Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,

trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại

phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh s t điều tra; Bản tự khai của bị cáo; Lời khai của bị hại; Tang vật thu giữ và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 25/8/2020, tại cửa hàng điện thoại di động F shop, địa chỉ 255 Đỗ Xuân Hợp, Tổ 1, Khu phố 4, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh T đã có hành vi dùng ná thun bắn bể cửa kính cường lực của cửa hàng F rồi lén lút vào bên trong cửa hàng chiếm đoạt 20 chiếc điện thoại. Tài sản bị chiếm đoạt có tổng trị giá là 437.490.000 đồng. Hành vi của Trần Thanh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qu định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời khai của bị c o đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện

Viện kiểm s t đã tru tố và luận tội đối với bị c o. Như vậ , nội dung bản c o trạng của Viện kiểm s t nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị c o Trần Thanh T là đúng người, đúng tội, đúng ph p luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở

hữu tài sản hợp pháp của người kh c được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị c o là người có đầ đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra, bị c o là người có sức khỏe, nhưng do lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị c o đã phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, tài sản bị chiếm đoạt có tổng trị giá là 437.490.000 đồng. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét trong suốt qu trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có th i độ thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải nên cần xem xét p dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị c o một phần hình phạt mà lẽ ra bị c o phải chịu

Đối với hành vi Trần Thanh T làm bể 01 tấm cửa kính chất liệu kính

cường lực 10mm, kích thước 1,8m x 3m của Cửa hàng “F shop”, giá trị thiệt hại là 2.900.000 đồng. Do Trần Thanh T không cố ý làm hư hỏng tấm cửa kính cường lực, hành vi đập cửa kính chỉ 01 quá trình thực hiện hành vi nhằm mục đích vào được bên trong cửa hàng để trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi trên của Trần Thanh T không cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo qu định tại Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vật chứng vụ án: 01 con dao thái lan cán màu vàng, 01 cây kéo cán

màu đen, 01 c i n thun màu x m, 04 viên bi kim loại, 01 ghế nhựa màu xanh. Đâ là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch

thu tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ

sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về dân sự: Bị hại Công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số F yêu cầu bị

cáo bồi thường số tiền 83.374.000 đồng (bao gồm giá trị phần trăm c c điện

thoại khi bị mất seal giảm 20% so với giá trị ban đầu và tiền cửa kính chất liệu

kính cường lực bị bắn bể). Tại phiên tòa, bị c o đồng ý bồi thường cho Công ty

Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số F số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận

yêu cầu của Công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số F.

Về n phí: Bị c o Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng n phí hình sự

sơ thẩm và 4.168.700 đồng n phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều

50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày

25/8/2020.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi,

bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủ : 01 con dao thái lan cán màu vàng, 01 cây kéo cán màu

đen, 01 c i n thun màu x m, 04 viên bi kim loại, 01 ghế nhựa màu xanh.

(theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 06/21 ngày 21/12/2020 của Cơ quan

Cảnh s t điều tra Công an Quận 9 (nay là Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an

thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung

năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị cáo Trần Thanh T phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Bán lẻ Kỹ

thuật số F số tiền 83.374.000 đồng (t m mươi ba triệu ba trăm bả mươi bốn

ngàn) đồng.

Kể từ ngà có đơn êu cầu thi hành n của người được thi hành n cho

đến khi thi hành n xong, tất cả c c khoản tiền, hàng th ng bên phải thi hành n

còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành n theo mức lãi suất

qu định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ

Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình

sự sơ thẩm và 4.168.700 (bốn triệu một trăm s u mươi t m nghìn bảy trăm)

đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị c o được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản n được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qu định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo qu định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành n được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ