vanban.org

Bản án 250/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Thị Mỹ H - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự
N NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ N
ỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2020/HS-ST
Ngày 04 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆ N M

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ N ỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2020 tại Hội trường A Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2020/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2020/QĐXXST-HS ngày 24/6/2020 đối với bị cáo:

Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: 76/2 Ngô Quyền, khu phố 6, phường C, Thành phố M, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Lê Tiến H, sinh năm 1959 (đã chết) và con bà Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1956; bị cáo có chồng tên Nguyễn Trọng P, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2007; tiền sự, tiền án: Không có.

Nhân thân: Ngày 28/10/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay là Thành phố Thủ Dầu Một), tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 237, ngày 01/9/2012 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt giam ngày 09/3/2020, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

1. Chị Dương Thị L, sinh năm 1980; thường trú: Ấp T xã P huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

2. Anh Lữ Quốc K, sinh năm 1993; thường trú: 40/15 khu phố T, phường A, Thành phố K, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

3. Anh Lê Võ Quốc V, sinh năm 1994; thường trú: 519/1A khu phố A, phường H, Thành phố K, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

4. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1969; thường trú: Thôn 6 xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị V, vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Tiến Đ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Thị Mỹ H và chị Dương Thị L không có nghề nghiệp, làm gái bán dâm tại khu vực đường Lê Hồng Phong, khu phố Tân Phú 1, phường Tân Bình, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương từ tháng 1 năm 2020. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 08/3/2020, anh Lữ Quốc K rủ anh Lê Võ Quốc V đi mua dâm. Sau đó K điều khiển xe mô tô chở V, cả hai đi đến gần quán cà phê SaLa thuộc khu phố Tân Phú 1, phường Tân Bình, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương gặp H đứng vẫy tay, K dừng xe hỏi “ đi chơi không em” H trả lời “ một cái 300.000 đồng, em lo tiền nhà nghỉ”. Lúc này, V nhờ H tìm giúp một gái bán dâm khác và hỏi giá bao nhiêu H trả lời “cũng 300.000 đồng”, sau đó dẫn V đến chỗ chị Dương Thị L đang đứng và nói “ có chị kia lớn tuổi nhưng vui vẻ, được không”. H vẫy tay chị L, L điều khiển xe mô tô không rõ biển số đi đến chỗ H. Sau đó H lên xe của K, V lên xe của L cùng đi đến nhà nghỉ Tùng Anh địa chỉ số 42 khu A1, khu dân cư Đại Quang, khu phố Tân Phú 1, phường Tân Bình, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Tại đây, V đưa 300.00 đồng cho L, K đưa 300.000 đồng cho H. L, H đi đến gặp chị Trần Thị V và anh Nguyễn Tiến Đ tại quầy lễ tân nhà nghỉ và trả tiền phòng mỗi người 50.000 đồng. H thuê phòng 103 còn L thuê phòng 104. Khi L, V, K, H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Đội cảnh sát quản lý hành chính phối hợp cùng đội Cảnh sát hình sự Công an Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính, lập biên bản đồng thời yêu cầu tất cả về Công an phường Tân Bình làm việc

Vật chứng thu giữ gồm: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 500.000 đồng.

Đối với Lê Võ Quốc V và Lữ Quốc K đã có hành vi mua dâm. Công an Thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng mỗi người.

Đối với hành vi bán dâm của Lê Thị Mỹ H, Dương Thị L. Công an Thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người số tiền 200.000 đồng.

Đối với anh Đỗ Văn H là chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ Tùng Anh đã để cho Lê Thị Mỹ H, Lữ Quốc K, Lê Võ Quốc V và Dương Thị L thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm. Ủy ban nhân dân Thành phố Dĩ An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 17.500.000 đồng.

Cáo trạng số 261/CT – VKS ngày 28 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 500.000 đồng.

Bị cáo H không bào chữa, tranh luận cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo H nói lời sau cùng. Biết việc mình làm là vi phạm pháp luật,xin được giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦ

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ xác định bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội: Lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Thị L, Lữ Quốc K, Lê Võ Quốc V, Đỗ Văn H, lời khai bị cáo H thể hiện: Vào lúc 21 giờ 30 ngày 08/3/2019 tại khu dân cư Đại Quang địa chỉ khu phố Tân Phú 1, phường Tân Bình, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Lê Thị Mỹ H làm trung gian để Dương Thị L bán dâm cho anh Lê Võ Quốc V. Hành vi trên của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 261/CT – VKS ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ trên được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu thể hiện việc đã bị Tòa án nhân dân Thành Phố Thủ Dầu Một xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy bị cáo được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

[2] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo H thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hóa, trật tự trị an xã hội nói chung mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nói riêng. Hành vi trên còn là nguyên nhân gián tiếp lây truyền các căn bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng đến giống nòi. Do vậy, cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để bị cáo tự cải tạo rèn luyện sau này không vi phạm nữa, cũng như việc răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 500.000 đồng liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

[4] Đối với Dương Thị L, Lữ Quốc K, Lê Võ Quốc V, Đỗ Văn H và bị cáo H là người bán, mua dâm, anh Đỗ Văn H chủ nhà nghỉ Tùng Anh đã để cho L, H bán dâm. Công an Thành phố Dĩ An và Ủy ban nhân dân Thành phố Dĩ An xử phạt hành chính là phù hợp.

[5] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo H có phần nghiêm khắc, do vậy Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt bị cáo Hằng thấp hơn so mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Án phí sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2020.

2. Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng);

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng.

Theo biên lai thu tiền số 01548, biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2020 tại Chi cục thi hành án Dân sự Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Lê Thị Mỹ H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ