vanban.org

Bản án 250/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Kim H đối với anh Võ Hữu T.

Cho chị Thị Kim H ly hôn với anh Võ Hữu T. Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Đức M, sinh ngày 27/11/2014 và Võ Đức T sinh ngày 15/12/2016 cho chị H nuôi dưỡng. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Kim H đối với anh Võ Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29-9-2020
V/v ly hôn giữa chị H và anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH T CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Thanh Hải

2. Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành T Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành T Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 170/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 184/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thị Kim H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Ấp N, xã NC, huyện GR, tỉnh KG “có mặt”

2. Bị đơn: Anh Võ Hữu T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Ấp TH, xã ĐH, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 18/02/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thị Kim H trình bày: Chị và anh T xác lập hôn nhân năm 2018, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng gần đây phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng xảy ra cãi vã bất hòa, anh T nhiều lần đánh đập vợ con, chị khuyên can chồng nhiều lần nhưng không có kết quả. Vào tết âm lịch năm 2020 anh T có hành vi đánh, hâm dọa giết chị nên chị và H con bỏ đi. Vợ chồng chính thức sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy, vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên chị H xin ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh, chị có 02 con chung tên Võ Đức M, sinh ngày 27/11/2014 và Võ Đức T sinh ngày 15/12/2016, con đang sống cùng mẹ.

Về chia tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.

Bị đơn anh Võ Hữu T được triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải nhưng vắng mặt, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Chị H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Chị yêu cầu được nuôi các con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Tài sản chung, nghĩa vụ trả nợ không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng, việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Cho chị H và anh T ly hôn. Con chung đề nghị giao cho chị H nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành T Cần Thơ nhận định:

Về tố tụng: Anh T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

Về Nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh, chị xác lập hôn nhân năm 2018, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay xảy ra cải vã bất hòa, anh T có hành vi đánh đập vợ con, chị H nhiều lần khuyên can chồng nhưng không có kết quả. Chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T thật sự không còn nên chị xin ly hôn. Anh T vắng mặt, không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của chị H. Xét thấy quá trình chung sống vợ chống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nhưng không có biện pháp khắc phục. Hiện tại vợ chồng sống ly thân, ai cũng có cuộc sống riêng. Do đó, chị H xin ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung đang sống cùng chị H. Chị H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Anh T không có tranh chấp quyền nuôi con nên giao con cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp.

Về chia tài sản: Không có.

[2.4] Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.

Về án phí: Chị Thị Kim H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thị Kim H đối với anh Võ Hữu T.

Cho chị Thị Kim H ly hôn với anh Võ Hữu T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Đức M, sinh ngày 27/11/2014 và Võ Đức T sinh ngày 15/12/2016 cho chị H nuôi dưỡng. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T được quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về chia tài sản: Không có.

4. Nghĩa vụ trả nợ: Không có.

5. Về án phí: Chị Thị Kim H phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 013235 ngày 09/7/2020.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công kH, tuyên án có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ