vanban.org

Bản án 250/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hoàng A về việc ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoàng A với anh Nguyễn Minh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2018/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2018
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thắng

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Công - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 484/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 357/2018/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1996.

Trú tại: Tổ 2, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1988.

Trú tại: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng A trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (Giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 09/10/2015). Quá trình chung sống, anh T không lo làm ăn, thường hay rượu chè; không còn lo lắng gia đình; khi có rượu trong người, anh T có hành động đánh đập và có lời lẽ xúc phạm đến chị.

Nay, chị và anh T không còn ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng đã không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Hoàng A xác định không có.

Về tài sản chung và nợ: Chị Hoàng A xác định không có.

Nay, chị Hoàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đồng thời chị có đơn yêu cầu không hòa giải; do khó khăn trong việc đi lại nên chị xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Thòn vẫn vắng mặt tại tòa; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Minh T có nơi cư trú tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; quan hệ pháp luật tranh chấp là: Ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Hoàng A có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Hoàng A, anh T theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy trích lục kết hôn số 190 ngày 16/3/2018 của Uỷ ban nhân dân xã TĐ, huyện CT, tỉnh Tây Ninh cung cấp thì chị Nguyễn Thị Hoàng A và anh Nguyễn Minh T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TĐ, giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 09/10/2015 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị Hoàng A yêu cầu ly hôn anh T, vì chị cho rằng hôn nhân giữa chị và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, không hạnh phúc; do anh T không còn lo lắng cho gia đình, còn có hành động đánh đập và có lời lẽ xúc phạm đến chị và hiện anh chị đã không còn sống chung và đã ly thân.

Đối với anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T không có văn bản hay ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng A. Anh Thòn cũng không đến Tòa để tham gia phiên họp công khai chứng cứ do phía chị Hoàng A cung cấp; chị Hoàng A cũng có đơn xin không hòa giải và xin vắng mặt tại Tòa.

Xét, giữa chị Hoàng A và anh T đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; anh T có hành động đánh đập và có lời lẽ xúc phạm đến chị Hoàng A, đây là hành động bạo lực gia đình và vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng A, cho chị Hoàng A được ly hôn với anh T là phù hợp.

Về con chung: Chị Hoàng A xác định không có.

Về tài sản chung và nợ: Chị Hoàng A xác định không có.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hoàng A về việc ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoàng A với anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Chị Hoàng A xác định không có.

Về tài sản chung và nợ: Chị Hoàng A xác định không có.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoàng A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng; số tiền 300.000 đồng chị Hoàng A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008391 ngày 04/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thành án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ