vanban.org

Bản án 250/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 31/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08-5-2017. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2017/HSST
Ngày: 31-7-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Minh Tân.

2. Bà Trịnh Thị Kim Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31-7-2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 240/2017/HSST ngày 30-6-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2017/QĐXX-HSST ngày 20-7-2017 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Văn T, sinh năm 1980.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ văn hóa: 5/12.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Họ và tên bố: Vũ Đình T, sinh năm 1954.

Họ và tên mẹ: Dương Thị T, sinh năm 1956.

Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba.

Có vợ là Vũ Thị Y, sinh năm 1984. Có 02 con, con lớn sinh năm 2004 và con nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/8/2013 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08-5-2017, chuyển tạm giam từ ngày 17-5-2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.

Bị cáo Vũ Văn T có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08-5-2017, Vũ Văn Tr và Trần Văn H góp được 500.000 VNĐ cùng rủ nhau mua ma túy đá về sử dụng chung. Tr gọi điện cho Vũ Văn T hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 VNĐ. T đồng ý và điều khiển xe máy biển kiểm soát 33R4-7189 đến khu vực xã N, huyện N, tỉnh Nam Định mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 VNĐ và đi đến khu vực trước cửa số nhà 117 đường V, xã N, thành phố N gặp Tr, H. Khi T nhận 500.000 VNĐ Tr đưa và giao gói ma túy đá cho Tr thì Tổ công tác Công an thành phố N kiểm tra hành chính, thu giữ và niêm phong theo quy định pháp luật 01 gói ma túy Tr khai là ma túy đá vừa mua của T; tạm giữ của Tr 01 điện thoại di động Nokia màu đen; tạm giữ của T 500.000 VNĐ T khai là tiền vừa bán ma túy cho Tr, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, 01 xe máy biển kiểm soát 33R4-7189 đồng thời đưa T, Tr, H và người làm chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Bản kết luận giám định số 378/GĐKTHS ngày 12-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong do Cơ quan điều tra Công an thành phố N trưng cầu giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,054 gam.

Bản cáo trạng số 244/QĐ-KSĐT ngày 30-6-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo khai biết rõ hành vi mua bán Methamphetamine là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích kiếm lời nên đã đi mua ma túy bán cho Vũ Văn Tr, Trần Văn H và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.

Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Văn T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Phạt bị cáo Vũ Văn T từ 33 tháng tù đến 36 tháng tù giam. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ năm triệu đồng đến bẩy triệu đồng.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của Vũ Văn Tr; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh là công cụ phạm tội và số tiền 500.000 VNĐ do phạm tội mà có của bị cáo Vũ Văn T.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn T có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 378/GĐKTHS ngày 12-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08-5-2017, bị cáo Vũ Văn T đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,054 gam cho Vũ Văn Tr và Trần Văn H với mục đích để kiếm lời thì bị bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, làm lan tràn tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích kiếm lời bất chính. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn dưới mức đề xuất của Viện kiểm sát là tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bố bị cáo là người có công với đất nước nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Vũ Văn Tr và Trần Văn H có hành vi mua ma túy để sử dụng, xét hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và trả lại cho Vũ Văn Tr 01 điện thoại di động Nokia màu đen là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Vũ Văn T và chiếc xe máy biển kiểm soát 33R4-7189, tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định. Do đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố N tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của Vũ Văn Tr là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh là công cụ phạm tội và số tiền 500.000 VNĐ do phạm tội mà có của bị cáo Vũ Văn T.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999:

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08-5-2017.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của của Vũ Văn Tr; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh và số tiền 500.000 VNĐ của bị cáo Vũ Văn T.

Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-6-2017 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

- Áp dụng Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ