- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo D, phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 250/2017/HSST Ngày 30 tháng 8 năm 2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thuỷ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang
2. Ông Đoàn Xuân Miễn
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh– Thư ký Toà án nhân dân
Quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Nguyễn Thuỳ Linh – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở nhà văn hoá phường Lê Đại Hành Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 316/2017/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 435/2017/HSST- QĐXX đối với bị cáo:
D – sinh năm: 1983; Tên thường gọi khác: không HKTT:25 phố G, phường C, quận E , Hà Nội;Nơi cư trú: Lang thang; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: H; Con bà: T; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án, ngày 05/3/2010, TAND thành phố Hà Nội xử 10 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản ”; 01 tiền sự năm 1998 bị công an quận Hoàn Kiếm xử phạt hành chính về hành vi Công nhiên chiếm đoạt tài sản; Danh chỉ bản số 312 lập ngày 23/5/2017 do công an Quận Hai Bà Trưng cung cấp; Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/5/2017, bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/5/2017.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h ngày 19 tháng 5 năm 2017, D nhận được điện thoại của Q là bạn quen biết ngoài xã hội hỏi mua 1.500.000đồng tiền ma túy (đá). Duy đồng ý bán và thỏa thuận địa điểm giao ma túy tại trước cửa khách sạn A (Địa chỉ: Số 9 phố B, Hà Nội). Sau đó, D đi xe máy đến trước cửa số nhà 32 phố E, Hà Nội gặp và mua của U (bạn xã hội) 04 gói nilon ma túy đá (gồm 01 gói nilon to giá 1.200.000đồng và 03 gói nilon nhỏ giá 1.200.000đồng). Sau khi mua được ma túy, D cất 01 gói nilon ma túy đá to vào túi quần bò phía trước bên trái và cất 03 gói ma túy đá nhỏ vào túi quần bò phía trước bên phải mục đích để bán cho Q. Khi D đang đứng đợi Q ở khu vực trước cửa số 2 phố E, phường D, quận E, Hà Nội thì bị tổ công tác công an phường D kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, D đã tự nguyện giao nộp 01 gói nilon ma túy đá to trong túi quần bên trái và 03 gói nilon ma túy đá nhỏ trong túi quần bên phải mình đang mặc. Tổ công tác đã đưa D cùng tang vật về trụ sở Công an phường để giải quyết. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của D 01 điện thoại Oppo; 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Samsung; 01 Ipad; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29D1-00848 và 510.000đồng.
Cơ quan CSĐT - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của D.
Tại bản kết luận giám định số 3566/KLGĐ-PC54 ngày 12/06/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: "Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 1,426gam ; Tinh thể màu trắng bên trong 03 gói nilông màu trắng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng trọng lượng 1,266gam".
Đối với đối tượng Q: D không biết nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể; Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không làm rõ được do vậy không có căn cứ xác minh xử lý.
Đối với đối tượng U: D không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể; D chỉ nhớ số điện thoại của U là 01647796617; Cơ quan điều tra đã dẫn giải D đi xác định địa điểm và đối tượng U. Duy chỉ xác định được địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được U. Tiến hành xác minh chủ sở hữu số điện thoại trên nhưng không xác định được. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave đeo BKS 29D1-00848: Qua giám định, xe có số khung: 046342 là số nguyên thủy, số máy có dấu vết tẩy xóa, xác định được số máy nguyên thủy là HC12E-704??? (ký tự “?” không xác định được). D khai nhận mua lại chiếc xe trên của một nam thanh niên không quen biết vào khoảng tháng 1/2017 với giá 10.000.000đồng; khi mua có giấy tờ đăng kí xe nhưng D đã làm mất. Do không xác định được chủ sở hữu chiếc xe Honda Wave đeo BKS: 29D1-00848 nên Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe máy cùng hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc BKS: 29D1-00848: Qua xác minh đây là BKS của chiếc xe Honda Lead màu nâu đen có số máy 0505008, số khung 003464 do chị M (SN: 1978, Chỗ ở: 95 ngõ E, phường D, quận E, Hà Nội) là chủ đăng kí xe; hiện chị M vẫn đang sử dụng chiếc xe trên, chị khai không bị rơi hay mất biển kiểm soát xe.
Đối với 03 chiếc điện thoại bị thu giữ trong đó chiếc điện thoại Oppo ngày 19/5/2017 D đã sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với Q; 02 chiếc điện thoại còn lại cùng 01 chiếc Ipad và số tiền 510.000đồng là tài sản cá nhân của D, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số: 246/CT/VKS-HS ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố D về tội:” Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo D khai nhận khoảng 11 giờ ngày 19/5/2017 tại trước cửa số nhà số 2 phố E, phường D, quận E, Hà Nội bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,692 gam Methamphetamine mục đích bán kiếm lời. Bị cáo nhận tội.
Kết thúc thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo D từ 30 đến 36 tháng tù.
Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 2,692 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Oppo do bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý, 01 xe máy Honda Wave đeo BKS: 29D1-00848 đã qua sử dụng số khung: 046342, số máy nguyên thủy đã bị tẩy xoá HC12E-704??? ; Trả lại bị cáo 02 điện thoại di động, 01 Ipad, và số tiền 510.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra, tang vật thu được , biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 19/5/2017 tại trước cửa số 2 phố E, phường D, quận E, Hà Nội, D đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,692 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi của D đã phạm tội:” Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý ma tuý của Nhà nước ta. Ma tuý là chất gây nghiện độc hại huỷ hoại sức khoẻ con người, là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này sau khi nhận được điện thoại của một người hỏi mua ma tuý, bị cáo đã mua 04 gói ma tuý đá giá 2.400.000 đồng, dự định bán 03 gói giá 1.500.000 đồng, bị cáo sẽ được hưởng lợi 300.000 đồng. Bị cáo khai đây là lần đầu tiên bị cáo bán ma tuý. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Nhân thân của bị cáo có 01 tiền sự năm 1998 đã hết thời hiệu, 01 tiền án ngày 05/3/2010 TAND TP. Hà Nội xử 10 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” ra trại ngày 04/2/2016, tiền án này chưa được xoá theo quy định tại Điều 67 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, tại phiên toà hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 2,692 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Oppo do bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý, 01 xe máy Honda Wave đeo BKS: 29D1-00848 đã qua sử dụng,số khung: 046342, số máy nguyên thủy đã bị tẩy xoá HC12E-704???; Trả lại bị cáo 02 điện thoại di động, 01 Ipad, và số tiền 510.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố : Bị cáo D, phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ Luật Hình Sự.
Xử phạt : D 34 ( Ba mươi bốn ) tháng tù .
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ
( ngày 19 tháng 5 năm 2017).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự .
Tịch thu tiêu huỷ 2,692 gam Methamphetamine. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Oppo,01 xe máy Honda Wave BKS:29D1-00848 đã qua sử dụng,số khung: 046342 ,số máy nguyên thủy đã bị tẩy xoá HC12E-704???; Trả lại bị cáo 02 điện thoại di động, 01 Ipad,số tiền 510.000 đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2017,tang vật số 313/17 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng,TP. Hà Nội và theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 23/8/2017 tại kho bạc nhà nước Hai Bà Trưng.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, khoản 1 Điều 233, Điều 234 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tm . héi ®ång xÐt xö
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ N¬i nhËn :
- BÞ c¸o
- ViÖn kiÓm s¸t QuËn Hai Bµ Tr ng
- C«ng an QuËn Hai Bµ Tr ng
- Chi côc THA d©n sù Q. Hai Bµ Tr ng
- L u hå s¬.
Ph¹m Xu©n Thuû HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA