- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội“Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!!!!!! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM QUẬN!THỐT!NỐT !!!!!!!TP.!CẦN!THƠ!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-ST Ngày: 22/04/2021. |
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!QUẬN!THỐT!NỐT!-!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Ánh Trinh
2. Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông H Quốc Vệ!- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2021/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo:
Nguyễn!Minh!L!(Số)!– sinh năm: 1996
ĐKTT: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn S – sinh năm: 1971 (sống) và bà Trần Thị Kim T – sinh năm: 1964 (sống); Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2021 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an quận Thốt Nốt.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại:
1/. Ông Trương!Văn!H – sinh năm: 1954 (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực D, phường E, quận F, thành phố Cần Thơ.
2/. Ông Nguyễn!Hoài!T – sinh năm: 1965 (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực D, phường E, quận F, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng:
1/. Ông Bùi!Minh!C – sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
2/. Bà Trần!Thị!Kim!T – sinh năm: 1964 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã E, huyện F, tỉnh An Giang.
Người làm chứng:
1/. Ông Trương!Văn!N – sinh năm: 1962 (Vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực Tràng Thọ A, phường Trung Nhứt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
2/. Ông Võ!Văn!T– sinh năm: 1961 (Vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực Tràng Thọ A, phường Trung Nhứt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh L khai nhận là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 08 giờ ngày 06/7/2020, Nguyễn Minh L đang ở nhà bạn là Trương Văn Ve tại khu vực Tràng Thọ A, phường Trung Nhứt, quận Thốt Nốt thì thấy ông Trương Văn H (cha của Ve) đậu chiếc xe mô tô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089 trước nhà của ông Võ Văn T(cháu của ông H) nên L nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089 của ông H bán lấy tiền tiêu xài. L đi vô nhà của ông H, lợi dụng lúc ông H đang nằm ngủ, L tìm chìa khóa. Trong lúc tìm chìa khóa L phát hiện chìa khóa ông H để trong túi quần dài của ông H đang treo trên cột nên L lén lút lấy chìa khóa và trộm số tiền 1.200.000đồng trong bóp để trong túi quần dài của ông H. Sau đó, L đi ra ngoài chuẩn bị lấy xe mô tô Jupiter đi thì gặp Bùi Minh C vì để che dấu hành vi của mình nên L nói dối với C ôm con gà tre của ông Nguyễn Hoài Thanh đang úp trong bội trước sân nhà để đi bán dùm nhưng mục đích của L không phải là chờ C bán gà mà để người khác không nghi ngờ L trộm cắp tài sản của ông H, C đồng ý. Sau khi C bắt con gà tre của ông Thanh, L điều khiển xe mô tô của ông H chở C đến Ngả tư đèn giao thông thuộc khu vực Long Thạnh A, phường Thốt Nốt. Tại đây, L nói với C ôm gà xuống xe để L đi đổ xăng rồi quay lại. Nhưng sau đó L điều khiển xe mô tô vừa trộm của ông Trương Văn H đến tỉnh Bình Dương và bán cho một người không rõ họ tên địa chỉ với giá 4.500.000đồng, số tiền này L tiêu xài hết. Còn Bùi Minh C do không thấy L quay lại nên ôm con gà trở về nhà thì bị Công an phường Thốt Nốt mời làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 53 ngày 05/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận: 01 con gà tre trọng lượng 01kg, đặc điểm màu điều, chân trắng với giá trị 150.000đồng và 01 xe môtô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089 đã qua sử dụng với giá trị 3.000.000đồng.
Quá trình làm việc, Nguyễn Minh L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập.
Về vật chứng: Đối với 01 xe môtô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089 của ông Trương Văn H do Nguyễn Minh L lấy trộm và đã bán cho một người ở tỉnh Bình Dương hiện không thu hồi được. Đối với con gà tre ông Nguyễn Hoài Thanh đã nhận lại và không yêu cầu gì.
Về trách nhiệm dân sự: đại diện gia đình Nguyễn Minh L đã bồi thường cho ông Trương Văn H trị giá chiếc xe môtô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089 với số tiền 3.000.000đồng và số tiền 1.200.000đồng. Ông H không yêu cầu gì thêm và có đơn xin bãi nại đối với L.
Ngoài ra, bà Trần Thị Kim T (là mẹ ruột của L) tự nguyện nộp 1.500.000đồng là tiền thu lợi bất của Nguyễn Minh L từ việc bán xe môtô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089.
Tại cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 09/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự:
Tuyên xử: Bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000đồng do bà T (mẹ bị cáo) nộp thay cho bị cáo tiền thu lợi bất chính do bị cáo phạm tội mà có.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận gia đình bị cáo bà Trần thị Kim T đã thỏa thuận bồi thường xong cho người bị hại ông Trương Văn H và người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Trong điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người bị hại, người làm chứng, v.v…
Như vậy, có cơ sở xác định vào khoảng 08 giờ ngày 06/7/2020, Nguyễn Minh L đang ở nhà bạn là Trương Văn Ve tại khu vực Tràng Thọ A, phường Trung Nhứt, quận Thốt Nốt thì thấy ông Trương Văn H (cha của Ve) đậu chiếc xe mô tô Jupiter biển kiểm soát 94F5-4089 trước nhà của ông Võ Văn T(cháu của ông H) nên L nảy sinh ý định trộm cắp, L đi vô nhà của ông H, lợi dụng lúc ông H đang nằm ngủ, L tìm chìa khóa. L phát hiện chìa khóa và trộm số tiền 1.200.000đồng trong bóp để trong túi quần dài của ông H. Sau đó, L đi ra ngoài chuẩn bị lấy xe mô tô Jupiter đi thì gặp Bùi Minh C nên L nói với C ôm con gà tre của ông Nguyễn Hoài Thanh đang úp trong bội trước sân nhà để đi chung với L tìm nơi bán gà nhưng mục đích của L không phải là chờ C bán gà mà để người khác không nghi ngờ L trộm cắp tài sản của ông H, C đồng ý. Sau khi C bắt con gà tre của ông Thanh, L điều khiển xe mô tô của ông H chở C đến Ngã tư đèn giao thông thuộc khu vực Long Thạnh A, phường Thốt Nốt. Tại đây, L nói dối với C ôm gà xuống xe để L đi đổ xăng rồi quay lại. Nhưng sau đó L điều khiển xe mô tô vừa trộm của ông Trương Văn H đến tỉnh Bình Dương và bán cho một người không rõ họ tên địa chỉ với giá 4.500.000đồng, số tiền này L tiêu xài hết. Còn Bùi Minh C do không thấy L quay lại nên ôm con gà trở về nhà thì bị Công an phường Thốt Nốt mời làm việc. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 53/BKL-HĐĐGTS ngày 05/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, kết luận: Tổng giá trị là 4.200.000đồng (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Xét bản thân bị cáo là một thanh Nên trẻ, có sức khỏe và khả năng lao động nhưng bị cáo không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà có tính tham lam và hơn nữa là nghiện ma túy, mong muốn có tài sản mà không phải bỏ công sức lao động, vì vậy, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lấy trộm tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài mua ma túy sử dụng thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự như thái độ của bị cáo trong điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hoàn C bị cáo khó khăn, không nghề nghiệp ổn định, gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn C khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Bị cáo Nguyễn Minh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
Tuyên!xử: Bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn!Minh!L!09!(Chín)!tháng!tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2021.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung nhân sách Nhà nước số tiền bị cáo thu lợi bất chính 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) do mẹ bị cáo Trần Thị Kím T tự nguyện nộp thay.
(Vật chứng tạm giữ hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/3/2021 giữa Cơ quan C sát điều tra Công an quận Thốt Nốt với Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt).
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận gia đình bị cáo (bà Trần thị Kim T) đã bồi thường xong cho người bị hại.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Nguyễn Minh L phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
Bị cáo và người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được Nêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! - VKSND Tp. Cần Thơ; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Cơ quan CSĐT CA quận Thốt Nốt; - Cơ quan Thi hành án hình sự;!! ! - Nhà tạm giữ CA quận Thốt Nốt;!! ! ! - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;!!!!! ! - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. !!! ! ! ! ! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA (Đã ký) ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! Hoàng!Ngọc!Hạnh !! |