vanban.org

Bản án 25/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T đối ông Lê Văn H .

1/ Tuyên buộc ông Lê Văn H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mạiSài Gòn Thương T tổng số tiền là 68.168.706 đồng (trong đó gốc 45.521,710đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 23/6/2019 đến ngày 24/7/2020 là 22.646.996 đồng). Kể từ ngày 25/7/2020 Lê Văn H còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấphợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T đối ông Lê Văn H .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNG SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25 / DS-ST
Ngày: 24 - 7 - 2020 .
V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Trần Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11 /2020/TLST- DS ngày 11tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐST- DS ngày 11 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự. Quyết định hoãn phiên tòa số 09/QĐH, ngày 02 tháng 7 năm 2020

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T. Địa chỉ: số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám Đốc.Bà Nguyễn Đức Thạch D ủy quyền cho ông Nguyễn Thế C - chức vụ: Giám đốc chi nhánh Sông Hàn. Ông Nguyễn Thế C ủy quyền lại cho ông Trần Triệu Kh - chức vụ: trưởng phòng kiểm soát rủi ro(theo văn bản ủy quyền số 159/2020 ngày 23 tháng 4 năm 2020). Địa chỉ liên hệ: Số 240 Nguyễn Hữu Thọ, phường Hòa Thọ Tây,quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Ông Kh có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1991. Trú tại: Tổ 12, phường M, quận Ng, TP. Đà Nẵng , vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 31/12/2020 và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/6/2018,ông Lê Văn H ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) với Ngân hàng TMCP Sài Gòn T. theo đó ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Huynh, hạn mức sử dụng là 40.000.000đ, với mục đích tiêu dung cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông H đã thực hiện nhiều lần các giao dịch rút và trả tiền với tổng số tiền tính đến ngày 22/3/2019 lên đến 90.400.000đ. Trong quá trình sử dụng thẻ tính từ ngày kích hoạt ông H đã thanh toán cho Ngân hàng đến ngày 22/3/2019 được số tiền 56,554,000 đồng là thôi không trả nữa mặc dù ngân hàng chúng tôi đã nhiều lần nhắc nhở cũng không có thiện chí trả nợ(vi phạm điều 2 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ), ông Hđã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/6/2019 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc. Nay Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu ông H trả số tiền 68.168.706đồng (trong đó gốc 45.521,710 đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 23/6/2019 đến ngày 24/7/2020 là 22.646.996 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 25/7/2020 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

* Bị đơn ông Lê Văn H vắng mặt và cũng không có ý kiến thể hiện tại hồ sơ

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án:

Tại phiên Tòa hôm nay, HĐXX đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại Chương II, chương XIV của BLTTDS; Thư ký được phân công đã thực hiện đúng quy định tại Điều 51 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người tham gia tố tụng về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS. Bị đơn không tham gia phiên tòa dù đã được triệu tập hợp lệ là thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 BLTTDS.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T đối với ông Lê Văn H

- Buộc ông Lê Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T toàn bộ số tiền nợ 68.168.706 đồng (trong đó gốc 45.521,710đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 23/6/2019 đến ngày 24/7/2020 là 22.646.996 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 25/7/2020 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:

[ 1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T đối với ông Lê Văn H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Ông Lê Văn H (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông .

Về nội dung vụ án: Ngày18/6/2018 ông Lê Văn H ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng)với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T . theo đó ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Huynh, hạn mức sử dụng là 40.000.000đ, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông Hđã thực hiện nhiều lần các giao dịch rút và trả tiền với tổng số tiền tính đến ngày 22/3/2019 lên đến 90.400.000đ. Trong quá trình sử dụng thẻ tính từ ngày kích hoạt ông H đã thanh toán cho Ngân hàng đến ngày 22/3/2019 được số tiền 56,554,000 đồng là thôi không trả nữa mặc dù ngân hàng chúng tôi đã nhiều lần nhắc nhở cũng không có thiện chí trả nợ(vi phạm điều 2 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ), ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/6/2019 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc. NayNgân hàng TMCP Sài Gòn Thương T yêu cầu ông H trả số tiền 68.168.706đồng (trong đó gốc 45.521,710 đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 23/6/2019 đến ngày 24/7/2020 là 22.646.996 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 25/7/2020 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T yêu cầu ông Lê Văn H nêu trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã không thực hiện việc trả nợ đúng hạn là vi phạm định kỳ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng mà các bên đã thỏa thuận ký kết. Nay ngân hàng yêu cầu ông H phải thanh toán số tiền nợ tiền 68.168.706 đồng (trong đó gốc 45.521,710 đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 23/6/2019 đến ngày 24/7/2020 là 22.646.996 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 25/7/2020 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.

HĐXX thấy yêu cầu nêu trên của ngân hàng là phù hợp với Điều 357,466,468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Án lệ 08/2016/AL ngày 17/10/2016 nên cần được chấp nhận;

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Văn H phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thương vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông H phải chịu là 3.408.435đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

ơ

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Án lệ 08/2016/AL ngày 17/10/2016; Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T đối ông Lê Văn H .

Xử:

1/ Tuyên buộc ông Lê Văn H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mạiSài Gòn Thương T tổng số tiền là 68.168.706 đồng (trong đó gốc 45.521,710đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 23/6/2019 đến ngày 24/7/2020 là 22.646.996 đồng).

Kể từ ngày 25/7/2020 Lê Văn H còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất lãi cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hành vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2/Án phí dân sự sơ thẩm: 3.408.435 đồng ông Lê Văn H phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T số tiền tạm ứng án phí 1.365.650 đồng, đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0009806 ngày 10 tháng 02 năm 2020.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết trích sao kết quả phiên tòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ