vanban.org

Bản án 25/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/9/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho bị hại gồm. Anh Tạ Văn B số tiền 11.000.000 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/9/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:25/2026/HSST
Ngày 23/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Thuần

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Tân

2. Ông Lê Văn Đô

Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Quyền– Thư ký Tòa án dân khu vực 2, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện VKSND khu vực 2, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung– Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không

Nơi thường trú: Thôn Ngọc B, xã Bình Ng, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12;

Con ông: Nguyễn Văn Bàng, sinh năm 1947 (đã chết);

Con bà: Nguyễn Thị Hội, sinh năm 1953;

Vợ, con: chưa có;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út.

Tiền án:

Bản án số 02/2015/HSST ngày 15/01/2015 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Vinh 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999).

Bản án số 49/2015/HSST ngày 24/3/2015 của TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999). Tổng hợp hình phạt 03 năm tù bản án hình sự sơ thẩm số 02/2015/HSST ngày 15/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc. Buộc bị cáo Vinh phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm tù. Vinh chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2020, đã chấp hành xong án phí; chưa bồi thường dân sự, số tiền 3.800.000 đồng.

Bản án số 160/2021/HSST ngày 10/11/2021 của Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt Vinh 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015); chấp hành xong phần dân sự ngày 28/7/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2024,

Nhân thân:

Bản án số 02/2012/HSST ngày 17/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đã chấp hành xong bản án).

Bản án hình sự phúc thẩm số 163/2013/HSPT ngày 19/8/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Việt Yên, Trại tạm giam số 02, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt) .

Bị hại:

- Anh Tạ Văn B, sinh năm 1981 (xin vắng mặt)

Cư trú: Thôn Trung T, xã Hợp Th, tỉnh Bắc Ninh;

- Anh Lê Văn H, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Cư trú: Thôn Trung T, xã Hợp Th, tỉnh Bắc Ninh;

- Anh Đinh Văn K, sinh năm 1982 (xin vắng mặt)

Cư trú: Thôn Đông Trước, xã Xuân C, tỉnh Bắc Ninh;

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998 (xin vắng mặt)

Cư trú: Thôn Ngọ X, xã Xuân C, tỉnh Bắc Ninh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền nên Nguyễn Văn V, sinh năm 1989, trú tại thôn Ngọc B, xã Bình Ng, tỉnh Phú Thọ đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là xe mô tô để đi bán lấy tiền chơi điện tử và chi tiêu cá nhân. Từ ngày 09/8/2025 đến ngày 28/8/2025, Nguyễn Văn V đã thực hiện 04 vụ trộm cắp xe mô tô tại địa bàn xã Hợp Thịnh và xã Xuân C, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 09/8/2025, Nguyễn Văn V một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu sơn trắng, biển kiểm soát 88AG-002.14 của Vinh từ nhà đến địa phận tỉnh Bắc Ninh mục đích đi trộm cắp xe mô tô. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Vinh đi đến địa phận xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh và đi đến gửi xe mô tô SH tại Trung tâm y tế Hiệp Hòa có địa chỉ tại thôn 2, xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, Vinh thuê xe taxi do anh Đặng Văn Toàn, sinh năm 1992, trú tại thôn Trung Đồng, xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh chở đi theo đường TL 296 đến dốc Bách Nhẫn sau đó rẽ trái đi về hướng thôn Trung Hòa, xã Hợp Thịnh rồi rẽ phải đến gần khu vực chợ Dật của Thôn Trung T, xã Hợp Th thì Vinh bảo anh Toàn dừng lại. Vinh xuống xe, trả tiền cho anh Toàn rồi đi bộ vào trong khu dân cư để tìm tài sản trộm cắp. Lúc này, Vinh phát hiện nhà anh Tạ Văn B, sinh năm 1981 thuộc Thôn Trung T, xã Hợp Th nằm sát cánh đồng của thôn Trung Tâm có để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Dream, biển kiểm soát 20G1-372.87 ở sân, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá điện. Vinh kiểm tra thấy cổng chỉ cài chốt không khóa nên dùng tay kéo chốt khóa, mở cổng đi thẳng vào sân dắt chiếc xe mô tô của anh Bẩy ra ngoài cổng rồi mở khóa điện, nổ máy, điều khiển xe tẩu thoát.

Ngày 17/9/2025, anh Tạ Văn B có đơn trình báo Công an xã Hợp Thịnh về việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20G1-372.87.

* Vụ thứ 2: Sau khi Vinh trộm cắp được chiếc xe mô tô của anh Tạ Văn B, Vinh điều khiển xe trộm cắp được khỏi nhà anh Bẩy khoảng 300m thì quan sát thấy nhà anh Lê Văn H, sinh năm 1990 trú cùng thôn có cổng không khóa, sân bật đèn sáng, trong sân dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 30N5-2728 vẫn cắm chìa khóa tại ổ khóa nên Vinh nảy sinh ý định tiếp tục lấy trộm chiếc xe Exciter này. Vinh điều khiển xe Honda Dream trộm cắp của anh Bẩy đi khoảng 200m thì đến cánh đồng của Thôn Trung T, xã Hợp Th và giấu chiếc xe này dưới ruộng cạnh đường rồi đi bộ quay lại nhà anh Lê Văn H. Đến nơi, Vinh đi vào sân dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 30N5-2728 ra cổng rồi mở khóa điện, nổ máy điều khiển xe đến vị trí giấu chiếc xe Dream lúc trước. Sau đó, Vinh điều khiển xe mô tô Honda Dream đến gửi tại nhà xe của Bệnh viện đa khoa Hùng Cường có địa chỉ tại thôn 2, xã Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh và tiếp tục thuê xe taxi do anh Nguyễn Khải Ngọc, sinh năm 1997, trú tại thôn Thanh Phác, xã Hoàng Vân, tỉnh Bắc Ninh điều khiển chở Vinh quay lại chỗ cất giấu xe lúc trước. Khi gần đến nơi, Vinh xuống xe taxi rồi Vinh đi bộ đến vị trí giấu xe mô tô Exciter lấy trộm được và điều khiển chiếc xe này về gửi tại nhà xe của Trung tâm y tế Hiệp Hòa. Sau đó Vinh đi bộ từ Trung tâm y tế Hiệp Hòa sang Bệnh viện đa khoa Hùng Cường để lấy xe Honda Dream và điều khiển xe về 01 quán Internet tại địa phận thành phố Hà Nội chơi điện tử. Quá trình chơi điện tử, Vinh truy cập vào nhóm trên mạng xã hội có tên “Mua bán xe online” để rao bán xe. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 10/8/2025 thì có người đàn ông tên là Tùng nhắn tin hỏi mua xe và hẹn Vinh mang xe đến vực Khu đô thị Ecopark, xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên để giao dịch. Tại đây, Vinh bán chiếc xe Honda Dream biển kiểm soát 20G1-372.87 cho Tùng với giá 4.500.000 đồng. Giao dịch xong, Vinh đi xe buýt quay trở lại Trung tâm y tế Hiệp Hòa, lấy chiếc xe mô tô Exciter biển kiểm soát 30N5-2728 gửi trước đó và tiếp tục mang bán cho Tùng được 4.000.000 đồng. Sau đó, Vinh đi xe khách về nhà ngủ, đến chiều cùng ngày (10/8/2025) Vinh đi xe khách từ nhà sang Trung tâm y tế Hiệp Hòa để lấy chiếc xe Honda SH của mình rồi đi về nhà.

Ngày 16/9/2025, anh Lê Văn H có đơn trình báo Công an xã Hợp Thịnh về việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30N5-2728.

*Vụ thứ 3: Tối ngày 27/8/2025, Vinh chơi điện tử tại một quán Internet thuộc xã Yên Trung, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Vinh thuê xe taxi từ quán Internet qua cầu Đông Xuyên sang địa bàn xã Xuân C, tỉnh Bắc Ninh. Khi qua cầu Đông Xuyên khoảng 200m thì Vinh bảo lái xe rẽ trái vào thôn Đông Trước, xã Xuân C thì dừng lại, trả tiền rồi đi bộ vào thôn Đông Trước. Vinh đi quanh thôn để tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 28/8/2025, Vinh đi đến khu vực gia đình anh Đinh Văn K, sinh năm 1982, trú tại thôn Đông Trước, xã Xuân C thì thấy cổng đóng, trong sân để một số xe mô tô. Thấy vậy, Vinh trèo tường vào trong sân nhà anh Kiên, Vinh đi ra kiểm tra thấy cổng được chốt bằng khóa hãm, không khóa nên mở cổng ra. Lúc này, Vinh quan sát thấy ở góc sân có dựng 03 chiếc xe (01 chiếc xe Honda loại xe Dream, 01 chiếc xe Honda loại xe Airblade, 01 xe máy điện). Vinh thấy chiếc xe mô tô Honda Dream mang biển kiểm soát 98D1-082.90 vẫn đang cắm chìa khóa ở ổ khóa điện ở phía trong nên Vinh dắt lùi chiếc xe máy Honda Airblade để bên ngoài ra giữa sân thì thấy xe không đóng khoá cốp nên Vinh mở cốp xe, lục tìm lấy được 01 chiếc ví trong cốp xe. Sau đó, Vinh tiến lại vị trí chiếc xe Honda Dream và dắt chiếc xe ra khỏi cổng. Khi vừa ra khỏi cổng, Vinh kiểm tra ví trong thấy không có tài sản nên đã ném chiếc ví lại ngay cạnh trụ cổng bên ngoài rồi quay lại khép cổng như ban đầu. Sau đó Vinh dắt xe ra đầu ngõ, mở khóa điện, nổ máy và điều khiển xe tẩu thoát.

Ngày 20/9/2025, anh Kiên có đơn trình báo Công an xã Xuân C về việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D1-082.90.

* Vụ thứ 4: Sau khi trộm cắp được chiếc xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 98D1- 082.90 của anh Đinh Văn K, trong lúc di chuyển, Vinh điều khiển xe rẽ vào đường của thôn Ngọ X thì phát hiện gia đình chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998, trú tại thôn Ngọ X, xã Xuân C, tỉnh Bắc Ninh không có cánh cổng, tại sân có để 01 xe mô tô nên Vinh tiếp tục nảy sinh ý định sẽ trộm cắp xe mô tô của chị Hòe. Vinh điều khiển xe Honda Dream đến cách cầu Đông Xuyên thuộc xã Xuân C khoảng 200m thì dừng lại và giấu chiếc xe Dream này xuống đường dân sinh bên trái hướng đi của Vinh (đường bờ ruộng) rồi đi bộ quay trở lại đi vào sân nhà chị Hòe thì thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 19G1-397.88 dựng ở sân. Vinh thử vặn khóa (khóa từ) thì thấy vặn mở được nên Vinh dắt chiếc xe mô tô ra ngoài ngõ và đề nổ máy rồi điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Đi được một đoạn Vinh dừng lại, kiểm tra thì thấy trong cốp xe có chìa khóa Smartkey. Sau đó, Vinh liên hệ với người đàn ông tên Tùng qua tài khoản zalo, hẹn và mang chiếc xe đến khu vực khu đô thị Ecopark để bán cho Tùng được 7.500.000 đồng. Sau đó, Vinh đi xe taxi quay trở lại lấy xe Dream biển kiểm soát 98D1-082.90 giấu trước đó rồi tiếp tục mang đến bán cho Tùng được 4.500.000 đồng rồi thuê xe taxi về nhà. Tổng số tiền Vinh bán 04 chiếc xe trộm cắp là 20.500.000 đồng, Vinh đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/9/2025, chị Hòe có đơn trình báo Công an xã Xuân C về việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19G1-397.88.

Ngày 18/9/2025, Nguyễn Văn V đến Công an xã Hợp Thịnh để đầu thú và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Quá trình đầu thú, Nguyễn Văn V giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 88AG-002.14 là phương tiện Vinh sử dụng đi trộm cắp tài sản đêm 09/8/2025; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax vỏ màu đen là tài sản Vinh sử dụng liên lạc với đối tượng Tùng để hẹn bán xe trộm cắp được. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn V, Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc áo phông cộc tay màu nâu nhạt có in số 1977 trên ngực áo là trang phục Vinh mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô đêm 09/8/2025 tại xã Hợp Thịnh.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 264/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Dream, biển kiểm soát 20G1-372.87 trị giá 11.000.000 đồng; 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Yamah, số loại Exciter biển kiểm soát 30N5-2728 trị giá 5.666.666 đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Xuân C kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe AIRBLADE, biển kiểm soát: 19G1-397.88; có giá 12.170.000 đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe DREAM, biển kiểm soát: 98D1-082.90 có giá 10.330.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 04 xe mô tô mà Nguyễn Văn V trộm cắp là 39.166.666 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử, tiến hành khôi phục dữ liệu trong điện thoại di động mà Nguyễn Văn V giao nộp khi đầu thú. Tại bản Kết luận giám định số 2673/Kl-KTHS ngày 02/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Trích xuất và khôi phục được 183MB dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Zalo; không trích xuất được dữ liệu của ứng dụng Facebook Messenger; không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn SMS từ ngày 08/08/2025 đến ngày 04/9/2025 trong 01 điện thoại Iphone 12Promax, màu đen, đã qua sử dụng, số sê-ri: HH6JX1VX0D42; số Imei1: VXD352117355026663, số Imei2: 35211735537890 gửi giám định. Kết quả kiểm tra 183MB dữ liệu khôi phục điện thoại không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn V.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trích xuất, thu giữ các đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn V thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Cơ quan điều tra đã cho bị can Vinh xem các đoạn video đã thu giữ, Vinh xác định hình ảnh người thanh niên xuất hiện trong các file video chính là Vinh (bút lục 271-294).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh Bắc Ninh tiến hành cho Nguyễn Văn V xác định địa điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và địa điểm tiêu thụ tài sản. Kết quả Vinh xác định đúng vị trí, địa điểm trộm cắp tài sản của anh Tạ Văn B, anh Lê Văn H, anh Đinh Văn K, chị Nguyễn Thị H. Vinh cũng xác định được địa điểm giao dịch để bán xe trộm cắp cho đối tượng tên Tùng tại Khu đô thị Ecopark, xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên.

Về vật chứng: Đối với 04 xe mô tô Vinh trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định truy tìm đến nay không có kết quả nên không thu hồi được.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 88AG-002.14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 01 chiếc áo phông cộc tay màu nâu nhạt có in số 1977 trên ngực áo là tài sản của Vinh. Các tài sản này hiện nay đang tạm giữ chờ xử lý.

Đối với chiếc ví mà Vinh trộm cắp của anh Lê Văn Kiên: Sáng ngày 28/8/2025, anh Kiên đã kiểm tra và nhặt được chiếc ví ở cạnh trụ cổng của gia đình. Chiếc ví này anh Kiên sử dụng đã lâu, trị giá không đáng kể nên anh Kiên không có yêu cầu, đề nghị gì.

Về trách nhiệm dân sự: Các anh Tạ Văn B, anh Lê Văn H, Đinh Văn K, chị Nguyễn Thị H yêu cầu Vinh bồi thường giá trị các xe trộm cắp theo kết luận định giá. Đến nay Nguyễn Văn V chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số: 98/CT-VKS-KV2 ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo biết mình đã sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát khu vực 2- Bắc Ninh trước phiên toà hôm nay vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Nguyễn Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V từ 03 năm, đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/9/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho các bị hại gồm

- Anh Tạ Văn B số tiền 11.000.000 đồng;

- Anh Lê Văn H số tiền 5.666.666 đồng;

- Anh Đinh Văn K số tiền 10.330.000 đồng;

- Chị Nguyễn Thị Hoè số tiền 12.170.000 đồng.

Kể từ ngày có quyết định thi hành án nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 88AG-002.14 (có đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng).

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax vỏ màu đen (có đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng).

- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) chiếc áo phông cộc tay màu nâu nhạt có in số 1977 trên ngực áo (đã niêm phong).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Văn V không có ý kiến tranh luận.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, vụ án được nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa các bị hại gồm: anh Tạ Văn B; anh Đinh Văn K; chị Nguyễn Thị H có đơn xin vắng mặt khi xét xử; Bị hại anh Lê Văn H vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ lời khai của các đương sự trên, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn V có mặt tại phiên tòa đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai của bị hại, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Trong 02 ngày 09/8/2025 và 28/8/2025, trên địa bàn xã Hợp Thịnh và xã Xuân C, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Văn V, sinh năm 1989, trú tại thôn Ngọc B, xã Bình Ng, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô của anh Tạ Văn B trị giá 11.000.000 đồng; 01 chiếc xe mô anh Lê Văn H trị giá 5.666.666 đồng; 01 chiếc xe mô tô của anh Đinh Văn K trị giá 10.330.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô chị Nguyễn Thị Hoè trị giá 12.170.000 đồng.

Tổng giá trị các tài sản Vinh trộm cắp là 39.166.666 đồng (Ba mươi chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi sáu đồng).

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” do vậy bị cáo đã phạm tội theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét về nhân thân; tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, thấy rằng:

Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi “ Trộm cắp tài sản” là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Điều đó thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần (04 lần) chiếm đoạt tài sản của các bị hại, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi hành vi phạm tôi bị phát hiện, bị cáo đã đầu thú, do vậy được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không việc làm ổn định, nên không cần thiết xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt cho bị cáo xét thấy mức án là phù hợp, đủ sức răn đe đối với bị cáo, để bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, suy nghĩ về hành vi phạm tội.

. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Tạ Văn B, anh Lê Văn H, Đinh Văn K, chị Nguyễn Thị H yêu cầu Vinh bồi thường giá trị các tài sản trộm cắp theo kết luận định giá. Đến nay Nguyễn Văn V chưa bồi thường

Tại phiên tòa bị cáo Vinh đồng ý bồi thường cho các bị hại giá trị các tài sản trộm cắp theo kết luận định giá, theo yêu cầu của bị hại.

Nên cần buộc bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại anh Tạ Văn B số tiền 11.000.000 đồng; anh Lê Văn H số tiền 5.666.666 đồng; anh Đinh Văn K số tiền 10.330.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hoè số tiền 12.170.000 đồng, là phù hợp với quy định tại là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.

. Về tính tiết khác của vụ án:

Đối với đối tượng mua xe tên “ Tùng” mua 04 chiếc xe của bị cáo Vinh, Bị cáo không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra đã áp dụng nhiều biện pháp ( Kiểm tra điện thoại; Khôi phục dữ liệu; Tài khoản ngân hàng...), nhưng không xác định được nhân thân của đối tượng Tùng, do vậy không có căn cứ để xác minh, làm rõ là có căn cứ.

Đối với các lái xe taxi chỏ bị cáo đều là xe dịch vụ, lái xe không biết việc cho bị cáo đi trộm cắp tài sản, nên không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng: Xét thấy vật chứng thu giữ gồm:

Đối với 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 88AG-002.14 là tài sản của bị cáo Vinh, Bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax vỏ màu đen là tài sản của Vinh có liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01(một) chiếc áo phông cộc tay màu nâu nhạt có in số 1977 trên ngực áo (đã niêm phong), bị cáo không có yêu cầu được xin lại, không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về án phí: Do bị cáo không thuộc đối tượng được miễn án phí, do vậy bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/9/2025.

Căn cứ điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho bị hại gồm.

Anh Tạ Văn B số tiền 11.000.000 đồng;

Anh Lê Văn H số tiền 5.666.666 đồng;

Anh Đinh Văn K số tiền 10.330.000 đồng;

Chị Nguyễn Thị Hoè số tiền 12.170.000 đồng.

Kể từ ngày có quyết định thi hành án nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 88AG-002.14 và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax vỏ màu đen đã qua sử dụng, số sê-ri: HH6JX1VX0D42; số Imei1: VXD352117355026663, số Imei2: 35211735537890.

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) chiếc áo phông cộc tay màu nâu nhạt có in số 1977 trên ngực áo (đã niêm phong).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.958.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ