- Tranh chấp gì? án hình sự — "AN - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Anơi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2026/HSST Ngày: 15/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huy Viễn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thám.
2. Bà Ngô Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 13 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Gia Lai (cơ sở 2) mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2026/HSST, ngày 06 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2026/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Đinh Anơi, sinh ngày 12/4/1981 tại xã C, tỉnh Gia Lai;
Nơi cư trú: Làng B, xã C, tỉnh Gia Lai;
Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Đinh N (đã chết) và bà Đinh Thị N1 (đã chết).
Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con lớn trong gia đình.
Bị cáo có vợ là chị Đinh Thị H, sinh năm 1986 và 04 con, con đầu sinh năm 2004, con út sinh năm 2024; hiện vợ con bị cáo đang cư trú tại: Làng B, xã C, tỉnh Gia Lai;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
*Những người tham gia tố tụng:
- Bị hại: Anh Đinh Q, sinh năm 2004; địa chỉ: Làng B, xã C, tỉnh Gia Lai – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã K, tỉnh Gia Lai – vắng mặt.
2. Anh Đinh K, sinh năm 1979; địa chỉ: Làng B, xã C, tỉnh Gia Lai – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 11/11/2025, anh Đinh Q (sinh năm 2004), trú tại Làng B, xã C, tỉnh Gia Lai buộc đàn bò của mình tại rẫy thuộc Làng B, xã C, tỉnh Gia Lai rồi đi về nhà. Trong số bò buộc tại rẫy có 01 con bò cái giống bò pha lai, khoảng 02 năm tuổi, màu lông vàng đậm, chiều cao vai 1,25m; chiều dài thân (không tính đuôi) 1,90m; trọng lượng 290kg và 01 con bò cái giống bò sẻ, khoảng 03 năm tuổi, màu lông nâu vàng nhạt, chiều cao vai 1,15m; chiều dài thân (không tính đuôi) 1,60m; trọng lượng 230kg.
Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Đinh A đi bắt ếch tại khu vực dọc ruộng nằm trên rẫy của anh Q thì thấy 02 con bò nêu trên được buộc tại rẫy, không có người trông giữ nên nảy sinh ý định lén lút chiếm đoạt. Đinh Anơi lần lượt tháo dây buộc từng con bò, sau đó dắt cả hai con đi theo đường mòn giữa các đám rẫy về hướng Đông. Khi đến khu vực Sân vận động A1 (thôn F, xã C, tỉnh Gia Lai), Đinh Anơi D bò vòng phía sau sân vận động ra đường T, băng qua đường rồi đi vào lối mòn đối diện Sân vận Đ đến rẫy mía của mình tại thôn F, xã C, tỉnh Gia Lai và buộc 02 con bò vào cây bạch đàn ở bìa rẫy mía để cất giấu, sau đó đi về nhà.
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 13/11/2025, Đinh A sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu bạc, số IMEI 867939046728011, gắn sim số 0326795831 gọi điện cho anh Huỳnh Văn T (sinh năm 1970), trú tại Thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai đến xem bò để bán. Khi anh T đến rẫy mía xem bò, Đinh A nói dối rằng: “Bò em nhờ người ta nuôi hộ, nay kẹt tiền nên lấy về bán”, nhằm che giấu việc 02 con bò trên là tài sản do mình trộm cắp. Sau khi xem bò, hai bên thỏa thuận giá mua bán là 25.600.000 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng) đối với cả 02 con bò, không lập giấy tờ mua bán. Anh T đồng ý mua và giao đủ số tiền 25.600.000 đồng cho Đinh A tại rẫy mía. Đinh A nhận tiền và mang về nhà cất giấu. Sau đó, anh Trì gọi anh Đinh Ky (sinh năm 1979), trú tại Làng Brò, xã Chư Krey, tỉnh Gia Lai và anh Nguyễn Tiến Hiệp (sinh năm 1988), trú tại Thôn 2, xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai đến dắt bò lên xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-171.60 chở về. Khoảng 17 giờ cùng ngày, anh Trì biết 02 con bò trên là tài sản do Đinh Anơi trộm cắp của anh Quế nên đã chở bò trả lại cho anh Quế. Sau khi nhận lại bò, anh Đinh Quế đến Công an xã Chư Krey trình báo.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng xã Chư Krey, tỉnh Gia Lai kết luận: Tại thời điểm ngày 11/11/2025, con bò cái giống bò pha lai, khoảng 02 năm tuổi, màu lông vàng đậm, kích thước đo được: Chiều cao vai 1,25m, chiều dài thân (không tính đuôi) 1,90m, trọng lượng 290kg có giá trị là 17.170.000 đồng; con bò cái giống bò sẻ, khoảng 03 năm tuổi, màu lông nâu vàng nhạt, kích thước đo được: Chiều cao vai 1,15m; chiều dài thân (không tính đuôi) 1,60m, trọng lượng 230kg có giá trị là 11.170.000 đồng. Tổng giá trị của tài sản chiếm đoạt là 28.340.000 đồng (Hai mươi tám triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSGLI-KV, ngày 04 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Gia Lai đã truy tố bị cáo Đinh Anơi ra trước Toà án nhân dân khu vực 13 - Gia Lai để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Anơi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Đinh Anơi từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
+ Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn nêu ý kiến đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.
*Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo Đinh Anơi được xác định theo lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa như sau: Vào khoảng 23h00’, ngày 11/11/2025 tại khu vực rẫy của anh Đinh Quế thuộc Làng Brò, xã Chư Krey, tỉnh Gia Lai, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của anh Quế trong việc quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 con bò cái giống bò pha lai, khoảng 02 năm tuổi, màu lông vàng đậm và 01 con bò cái giống bò sẻ, khoảng 03 năm tuổi, màu lông nâu vàng nhạt của anh Quế. Sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị cáo đã đem bán 02 con bò nói trên cho ông Huỳnh Văn Trì với giá 25.600.000 đồng nhưng chưa kịp sử dụng số tiền này thì vụ việc bị phát hiện. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng.
[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đinh Anơi là phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Xét về nhân thân, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo là một công dân đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi nên hoàn toàn nhận thức được việc xâm phạm tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì ham muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp của bị hại 02 con bò có giá trị là 28.340.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Chính vì vậy, cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại đầy đủ cho bị hại và bị hại có ý kiến đề nghị xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo trong thời gian công tác được cấp có thẩm quyền tặng thưởng nhiều giấy khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống bình thường của xã hội mà xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo bên cạnh sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú cũng đủ cho bị cáo cải tạo, sửa đổi bản thân tiến bộ.
Đối với ông Huỳnh Văn Trì là người mua 02 con bò do Đinh Anơi bán nhưng trong quá trình điều tra xác định ông Trì không biết 02 con bò đó là tài sản do Đinh Anơi trộm cắp mà có. Vì vậy, việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Trì về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Đinh Anơi là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức án đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là anh Đinh Quế sau khi nhận lại tài sản bị mất là 02 con bò nói trên thì anh Quế không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
Đối với số tiền 25.600.000 đồng ông Huỳnh Văn Trì đã đưa cho bị cáo để mua 02 con bò nói trên thì bị cáo đã nộp lại sau đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã trả lại cho ông Trì và ông không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, anh Quế và ông Trì vắng mặt nên nếu sau này có tranh chấp hay yêu cầu bồi thường thì sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[8]. Về vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án là 02 con bò gồm 01 con bò cái giống bò pha lai, khoảng 02 năm tuổi, màu lông vàng đậm, chiều cao vai 1,25m, chiều dài thân 1,90m, trọng lượng 290kg và 01 con bò cái giống bò sẻ, khoảng 03 năm tuổi, màu lông nâu vàng nhạt, chiều cao vai 1,15m, chiều dài thân 1,60m, trọng lượng 230kg. Sau khi định giá, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã trả lại 02 con bò trên cho chủ sở hữu là anh Đinh Quế .
Đối với số tiền 25.600.000 đồng ông Huỳnh Văn Trì đã đưa cho bị cáo để mua 02 con bò nói trên thì bị cáo đã nộp lại sau đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã trả lại cho ông Trì.
Việc xử lý vật chứng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu bạc, đã qua sử dụng, số Imei 1: 867939046728011 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với ông Huỳnh Văn Trì trao đổi việc mua bán 02 con bò bị cáo trộm cắp xét còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc sim số 0326795831 gắn trong chiếc điện thoại di động nói trên là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với ông Huỳnh Văn Trì trao đổi việc mua bán 02 con bò bị cáo trộm cắp xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[9]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đinh Anơi là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, có đơn xin miễn án phí do đó Hội đồng xét xử sẽ miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo;
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Anơi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đinh Anơi 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2026).
Giao bị cáo Đinh Anơi cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú là Uỷ ban nhân dân xã Chư Krey, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo Đinh Anơi thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Anơi .
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu bạc, số Imei 1: 867939046728011, tình trạng đã qua sử dụng.
- Tịch thu, tiêu hủy sim số “0326795831”.
Các vật chứng này được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng; mặt trước in chữ “Công an xã Chư Krey”, mặt sau tại mép dán có chữ ký của “Đinh Anơi”, “Đinh Văn Điêm”, “Võ Văn Hòa”, “Nguyễn Quang Vinh” và hình dấu tròn của “Công an xã Chư Krey, tỉnh Gia Lai”.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/3/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Gia Lai).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;
Xử miễn toàn bộ số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo Đinh Anơi .
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND khu vực 13 – Gia Lai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Thi hành án HS, DS; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huy Viễn |