- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hồng V - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hồng V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2026/HS-ST Ngày 08 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng và ông V Tiến Thả
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Hồng V, sinh năm 1977, nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Tổ 1, phường Phước L, thành phố Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Tổ 1, phường Phước L, thành phố Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh S (đã chết) và bà Ngô Thị H; có vợ: V Thị Bé T và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2025 đến ngày 30/01/2026 được tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và hoãn xuất cảnh cho đến nay, “có mặt”.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty X.
Người đại diện: Bà Lê Thị Hồng N, chức vụ: Quyền Giám đốc Depot
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Khổng Th, sinh năm 1983 “xin vắng mặt”.
Nơi thường trú: Thôn Phú Hưng, xã Phú Riềng, thành phố Đồng Nai.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người làm chứng:
Ông Trần Thế M, sinh năm 1986 “vắng mặt”;
Nơi thường trú: Ấp 11, xã Thiện H, thành phố Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hồng V là tài xế chạy xe taxi công nghệ cho Công ty X – Chi nhánh Bình Phước. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 12/11/2025, V nhận được điện thoại từ một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê đến khu vực nhà thờ Giáo sứ Châu Ninh, thuộc ấp 13, xã Thiện H, thành phố Đồng Nai để chở người đàn ông trên và 04 bao pháo nổ về phường Phước L, thành phố Đồng Nai. Sau khi trao đổi, người đàn ông đồng ý trả cho V 400.000 đồng tiền chở người, còn pháo nổ thì tính 40.000 đồng/hộp, V đồng ý.
Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe ô tô hiệu VINFAST, loại HERIO GREEN S5EJ04, màu xanh, biển kiểm soát 60H-330.73 đi từ Bến xe Thành Công thuộc phường Phước L, thành phố Đồng Nai đến khu vực trước cổng nhà thờ Giáo sứ Châu Ninh thuộc ấp 13, xã Thiện H đón người đàn ông thuê xe, sau đó người đàn ông chỉ đường cho V điều khiển xe ô tô đi vào khu vực nghĩa trang nhân dân thuộc ấp 13, xã Thiện H thì dừng lại. V ngồi ở trên xe ô tô, còn người đàn ông xuống xe, vác 04 bao tải chứa pháo nổ có sẵn trong nghĩa trang lên xe ô tô. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở người đàn ông và số pháo nổ trên về phường Phước L, thành phố Đồng Nai.
Khi đang lưu thông trên đường liên ấp thuộc ấp 13, xã Thiện H, thành phố Đồng Nai thì bị lực lượng Đồn biên phòng Bù Đốp yêu cầu dừng xe để kiểm tra, phát hiện pháo nổ nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi vận chuyển hàng cấm, thu giữ vật chứng gồm: 04 bao tải màu đen có chứa 73 hộp pháo hoa, có cùng kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có ký hiệu 49 SHOTS CAKE có tổng khối lượng là 118kg; 01 xe ô tô hiệu VINFAST, loại HERIO GREEN S5EJ04, màu xanh, biển kiểm soát 60H- 330.73; 04 bao ni lông trong suốt; 04 bao tải màu đen. Riêng đối tượng thuê V chở pháo, khi phát hiện lực lượng biên phòng yêu cầu dừng xe để kiểm tra, đã mở cửa xe ô tô và bỏ chạy trốn khỏi hiện trường.
Tại Bản kết luận giám định số: 3350/KL-KTHS ngày 19/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đồng Nai xác định: 73 khối hình hộp, ký hiệu M được niêm phong gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 118,0kg.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Hồng V về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội, tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, Điều 35, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hồng V từ 350.000.000 đồng đến 450.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 65 (Sáu mươi lăm) hộp pháo hoa nổ có tổng trọng lượng 105,10kg đã niêm phong dán kín trong 04 thùng giấy.
Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 04 (Bốn) bao tải màu đen kích thước 60x45x20cm và 04 (bốn) bao ny lông màu trong suốt.
Đề nghị trả lại 01 (Một) xe ô tô hiệu VINFAST, loại HERIO GREEN S5EJ04, màu xanh, biển kiểm soát 60H-330.73; số khung: RLNV5JSE2SH802718; số máy VFCAFB257230185 cho Công ty X – Chi nhánh Bình Phước.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Hồng V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã xác định.
Bị cáo V nói lời sau cùng: Sau khi phạm tội bị cáo đã rất hối hận nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy, các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám phương tiện; Kết luận giám định số 3350/KL-KTHS ngày 19/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đồng Nai; lời khai của người làm chứng phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/11/2025, Trần Hồng V đã thực hiện hành vi điều khiển xe ô tô hiệu VINFAST, màu xanh, biển kiểm soát 60H-330.73 vận chuyển thuê 118kg pháo nổ từ khu vực ấp 13, xã Thiện H, thành phố Đồng Nai về phường Phước L, thành phố Đồng Nai cho người đàn ông (không rõ lai lịch) với số tiền công 3.320.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo Trần Hồng V với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 191 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai, truy tố bị cáo Trần Hồng V về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quản lý kinh tế của Nhà nước về pháo nổ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là rất nguy hiểm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng nhằm mục đích thu lợi bất chính số tiền 3.320.000 đồng nên bị cáo đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có ông nội là Liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân tại địa phương, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Hồng V không có tình tiết tăng nặng tránh nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo V là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, ...”. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hình phạt chính là phạt tiền. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo V.
Về vật chứng:
Đối với 65 (Sáu mươi lăm) hộp pháo hoa nổ có tổng trọng lượng 105,10kg đã niêm phong dán kín trong 04 thùng giấy còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 04 (Bốn) bao tải màu đen kích thước 60x45x20cm và 04 (bốn) bao ny lông màu trong suốt không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (Một) xe ô tô hiệu VINFAST, loại HERIO GREEN S5EJ04, màu xanh, biển kiểm soát 60H-330.73; số khung: RLNV5JSE2SH802718; số máy VFCAFB257230185. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Công ty X – Chi nhánh Bình Phước, nên cần trả lại cho Công ty X – Chi nhánh Bình Phước.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai đề nghị mức hình phạt chính và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định nên được Hội dồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông thuê V chở pháo: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả vì vậy không đề cập xử lý.
Đối với thông tin thuê bao di động của người đàn ông thuê V chở pháo, Cơ điều tra đã tiến hành xác minh, điều tra nhưng không có kết quả. Đối với điện thoại di động sử dụng để liên lạc với người đàn ông thuê chở pháp, bị can V không nhớ rõ đã rơi ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết vì vậy không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo Trần Hồng V đã nộp tại Thi hành án dân sự Đồng Nai ngày 25/3/2026 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Xét thấy, tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hình phạt chính là phạt tiền, vì vậy số tiền bị cáo V đã nộp được khấu trừ vào số tiền phạt bị cáo phải chấp hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hồng V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Hồng V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ Điều 260, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Trần Hồng V 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng, được khấu trừ số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng bị cáo đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự Đồng Nai ngày 25/3/2026.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu huỷ 65 (Sáu mươi lăm) hộp pháo hoa nổ có tổng trọng lượng 105,10kg đã niêm phong dán kín trong 04 thùng giấy.
- Tịch thu tiêu huỷ 04 (Bốn) bao tải màu đen kích thước 60x45x20cm và 04 (bốn) bao ny lông màu trong suốt.
- Trả lại 01 (Một) xe ô tô hiệu VINFAST, loại HERIO GREEN S5EJ04, màu xanh, biển kiểm soát 60H-330.73; số khung: RLNV5JSE2SH802718; số máy VFCAFB257230185 cho Công ty X – Chi nhánh Bình Phước.
(Theo biên bản giao nhận vât chứng số 9038/2026 của Phòng THADS khu vực 13 – Đồng Nai).
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nguyễn Xuân Hùng V Tiến Thả | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Công |