vanban.org

Bản án 25/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Huy H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hà Huy H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 26/4/2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 ví da màu đen theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Huy H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Huy H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 04-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Biên

Ông Phạm Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hữu Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5

- Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Hà Huy H, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2002 tại thành phố Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Đường P, phường A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ C, phường K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Duy H1 và bà Phạm Thị Thu H2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 26/4/2025, tạm giam ngày 29/4/2025; có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1961; nơi cư trú: Đường H, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 25/4/2025, Hà Huy H đến cổng chính Bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng với mục đích tìm xe mô tô nào chưa khóa cốp thì sẽ mở để trộm cắp tài sản. Đến nơi, H phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Aiblade, màu sơn đen đỏ (không nhớ biển kiểm soát) có cắm chìa khóa xe ở ổ khóa. H mở cốp xe thì phát hiện có 01 ví da màu nâu bên trong có tiền mặt. H lấy hết số tiền có trong 01 ngăn, ngăn còn lại để nguyên, sau đó H cất ví lại trong cốp, rút chùm chìa khóa gồm 01 chìa khóa xe, 04 chìa khóa sắt cầm về nhà. Khi về đến nhà, H kiểm tra số tiền đã trộm cắp được là 6.500.000 đồng gồm 13 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó, H lên mạng xã hội liên hệ với một người không quen biết mua 01 xe mô tô nhãn hiệu Liberty, biển kiểm soát: 15B1-14093 với giá 5.000.000 đồng, chi tiêu cá nhân hết 994.000 đồng, còn lại 506.000 đồng H để trong ví da màu đen của mình. Ngoài ra, H khai cũng bằng thủ đoạn tương tự như trên, một số lần H đến Bệnh viện Việt Tiệp để trộm cắp, có lần được 100.000 đồng, có lần 200.000 đồng, H không nhớ thời gian cụ thể.

Ngày 26/4/2025, H đến cơ quan Công an đầu thú. Tại cơ quan Công an, H đã giao nộp số tiền 506.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Liberty màu trắng, biển kiểm soát: 15B1-14039, 01 đăng ký xe và 01 ví da màu đen.

Ngày 26/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Huy H, thu giữ 01 chùm chìa khóa gồm 01 chìa khóa xe Aibalade và 04 chìa khóa sắt.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Liberty, biển kiểm soát: 15B3-14039 qua xác minh đã cấp cho chị Vũ Thị Lan, địa chỉ: Số 12 đường Hai Bà Trưng, phường An Biên, thành phố Hải Phòng. Năm 2016, do không có nhu cầu sử dụng nên chị Lan đã bán cho người không rõ lai lịch, địa chỉ qua mạng Internet, việc mua bán không có giấy tờ, chỉ thỏa thuận miệng.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Aiblade, 04 chìa khóa sắt, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Trần Văn Đ.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Liberty, 01 chìa khóa xe, 01 đăng ký xe và số tiền 506.000 đồng, quan điểm của bị hại và bị cáo là trả cho bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả những tài sản trên cho ông Trần Văn Đ.

- 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo Hà Huy H chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn Đ đã nhận tài sản và không yêu cầu Hà Huy H bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 18/CT-VKSKV5 ngày 05/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã truy tố Hà Huy H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hà Huy H khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Huy H từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về việc vắng mặt của bị hại: Bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/4/2025, tại bãi gửi xe của Bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng, Hà Huy H có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 6.500.000 đồng của ông Trần Văn Đ. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự công cộng, an ninh xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

- Về nhân thân:

[6] Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[7] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[8] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt chính:

[9] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

[10] Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

[11] Bị hại đã nhận tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét, giải quyết.

- Về việc xử lý vật chứng:

[12] Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo không còn giá trị và bị cáo đề nghị không nhận lại.

- Về án phí:

[13] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Đối với lời khai của bị cáo về việc trước đó có một số lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng do chưa xác định được thời điểm chiếm đoạt, số tiền chiếm đoạt và bị hại nên chưa có căn cứ xử lý. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã có Công văn yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng tách hành vi và tài liệu có liên quan, xác minh làm rõ sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hà Huy H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hà Huy H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 26/4/2025.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 ví da màu đen theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Hà Huy H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ