vanban.org

Bản án 25/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17-LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày: 10/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17- LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Đức Sơn.

2/ Ông Hồ Văn Sơn.

-Thư ký phiên tòa: Bà M Thảo Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận- Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS, ngày 06/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 25/8/2025, đối với bị cáo:

-Bị cáo: Phan Bá V (tên gọi khác là Bờm), sinh năm 1998, tại Bình Thuận nay là tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn Đồng Kho 4, xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Bá V1, sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị Kim C, sinh năm: 1970; cùng trú tại: Thôn Đồng Kho 4, xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng; gia đình có 06 chị em, Phan Bá V là con thứ tư trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2022/HSST ngày 22/6/2022 của Tòa án nhân dân Tp. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt Phan Bá V 02 năm tù về tội “cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa dổi bổ sung năm 2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2023, hiện chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2025 đến nay– Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Võ Thị H, sinh năm: 1971

Nơi cư trú: Thôn Đakai 5, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị Kim M, sinh năm: 1990

Nơi cư trú: Thôn Đồng Kho 4, xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1980

Nơi cư trú: Thôn Đakai 1, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng (vắng)

2. Ông Lương Văn T, sinh năm: 1989

Nơi cư trú: Thôn Sùng Nhơn 4, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng (vắng)

3. Ông Lê Ngô Kiến D, sinh năm: 1997

Nơi cư trú: Thôn Mê pu 4, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng (vắng)

4. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1972

Nơi cư trú: Thôn Đakai 5, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng(vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 15/4/2025, Phan Bá V, sinh ngày 15/03/1998 điều khiển xe mô tô biển số 86B7 – 36082 do bà Phan Thị Kim M (chị ruột Phan Bá V) cùng trú tại thôn 4, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn Đồng Kho 4, xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng đứng tên chủ sở hữu di chuyển từ nhà mình đến khu vực thuộc địa phận xã ĐaKai, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng để cướp giật tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày, Vững điều khiển xe mô tô biển số 86B7 – 36082 di chuyển trên tuyến đường Mê Pu – ĐaKai đến khu vực chợ ĐaKai thuộc địa phận thôn 5, xã ĐaKai, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn ĐaKai 5, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng thì nhìn thấy bà Võ Thị H, sinh năm 1971 trú tại thôn 5, xã ĐaKai, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn ĐaKai 5, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng đang đứng mua hàng tại quầy bán thịt, trên cổ bà H có đeo 01 sợi dây chuyền vàng. Thấy vậy, Vững điều khiển xe mô tô biển số 86B7 – 36082 ép sát vào phía sau lưng bà H rồi dùng tay trái giậy lấy sợ dây chuyền bà H đang đeo trên cổ rồi điều khiển xe bỏ chạy theo hướng xã Sùng Nhơn, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay thuộc xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng. Trong khi đang điều khiển xe tẩu thoát, Vững dùng tay trái cầm sợi dây chuyền vàng vừa cướp giật được bỏ vào hộc xe phía trước bên trái. Lúc này, bà H và những người dân tại khu vực này truy hô “cướp, cướp, …” và chỉ về hướng Vững đang điều khiển xe mô tô biển số 86B7 – 36082 bỏ chạy. Thấy vậy, Trần Văn Đ, sinh năm 1980, trú tại thôn 1, xã ĐaKai, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn ĐaKai 1, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng điều khiển xe mô tô chở phía sau Lương Văn T, sinh năm 1989 trú tại thôn 4, xã Sùng Nhơn, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn Sùng Nhơn 4, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng đuổi theo truy bắt Vững. Cùng thời điểm này, Lê Ngô Tiến D, sinh năm 1997, trú tại thôn 4, xã Mê Pu, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn Mê Pu 4, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng cũng điều khiển xe mô tô đuổi theo truy bắt Vững. Biết có người dân đuổi theo phía sau, Vững điều khiển xe mô tô biển số 86B7 – 36082 từ đường Mê Pu – ĐaKai rẽ vào đường số 1 thuộc thôn 1, xã ĐaKai, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là thôn ĐaKai 1, xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng nhằm trốn tránh việc truy bắt của những người dân đang điều khiển xe mô tô đuổi theo phía sau. Khi Vững điều khiển xe mô tô biển số 86B7 – 36082 rẽ vào đường số 1 được khoảng 100m thì bị Trần Văn Đ, Lương Văn T, Lê Ngô Tiến D điều khiển xe mô tô phía sau đuổi kịp và bắt giữ Vững cùng với tang vật giao cho Cơ quan công an xử lý.

Tại kết luận giám định số 1752/KL- KTHS ngày 5/5/2025 của Phan viện KHHS thuộc Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

1. Mẫu cần giám định: Một sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dài 52cm, bị đứt ngay móc khóa, khối lượng: 16,4668 gam – ký hiệu M1

2. Kết luận về đối tượng giám định: mẫu M1 có khối lượng: 16,4668 gam có chứa hàm lượng kim loại là Vàng (Au) – Hàm lượng vàng: 62,53%, Bạc (Ag) – Hàm lượng Bạc: 7,68%, Đồng (Cu) – Hàm lượng Đồng: 29,79%

Hoàn lại đối tượng gửi giám định: mẫu còn lại sau giám định có khối lượng mẫu M1: 16,4665 gam.

Tại kết luận định giá số 25/KL-HĐĐG ngày 13/5/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ Linh kết luận: 01 sợi dây chuyền màu vàng, dài 52cm, có khối lượng: 16,4668 gam, có chứa thành phần kim loại là Vàng (Au) – Hàm lượng vàng: 62,53%, Bạc (Ag) – Hàm lượng Bạc: 7,68%, Đồng (Cu) – Hàm lượng Đồng: 29,79% có giá trị là 24.312.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án:

- 01 sợi dây chuyền màu vàng, dài 52cm, có khối lượng: 16,4665 gam đã trả lại cho bị hại bà Võ Thị H.

- 01 xe mô tô biển số 86B7 – 36082 do Phan Bá V sử dụng làm P tiện để thực hiện cướp giật tài sản ngày 15/4/2025. Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 86B7 – 36082 do bà Phan Thị Kim M đứng tên chủ sở hữu. Bà M không biết Phan Bá V sử dụng xe mô tô biển số 86B7 – 36082 để thực hiện cướp giật tài sản ngày 15/4/2025. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình thuận đã ra quyết định xử lý tài sản số: 8242 ngày 28/6/2025 trả lại xe mô tô biển số 86B7 – 36082 cho bà M là đúng quy định pháp luật.

- 01 điện thoại di động Iphone 11 đã trả lại cho Phan Bá V.

Trách nhiệm dân sự: Bà Phan Thị Kim M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự.

Tại cáo trạng số 11/CT-VKS-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Bá V ra trước Tòa án nhân dân khu vực 17-Lâm Đồng để xét xử về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Lâm Đồng giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Phan Bá V phạm tội “ Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 5 năm đến 6 năm tù.

Bị cáo nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và trình bày lời nói sau cùng như sau: Bị cáo thừa nhận hành vi do mình thực hiện là trái pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt, cam kết cải tạo tốt, không tái phạm.

Bị hại bà Võ Thị H không có ý kiến tranh luận: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ Linh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ Linh (nay là VKSND khu vực 17-Lâm Đồng) được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Phần thủ tục: Căn cứ vào Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban thương vụ Quốc Hội ngày 27/6/2025 về thành lập Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực và Nghị Quyết số 01/2025/NQ- HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn một số quy định về tiếp nhận thực hiện nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì Tòa án khu vực 17- Lâm đồng kế thừa quyền và trách nhiệm của Tòa án nhân dân huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận trước đây, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17- Lâm Đồng.

Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng. Xét sự vắng mặt của những người làm chứng không trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt những người này là phù hợp với Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, kết luận giám định, bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 15/4/2025, Phan Bá V đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô biển số 86B7-36082, dùng tay trái cướp giật tài sản là 01 sợi dây chuyển màu vàng, dài 52cm, có khối lượng 16,4665 gam của bà Võ Thị H trú tại thôn 5, xã Đa kai, huyện Đ Linh, tỉnh Bình Thuận nay là xã Nam Thành, tỉnh Lâm Đồng. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 24.312.000 đồng.

Hành vi của Phan Bá V đã sử dụng thủ đoạn nguy hiểm là dùng xe mô tô điều khiển để chiếm đoạt tài sản của nạn nhân sẽ gây nguy hiểm hoặc có nguy cơ cao gây nguy hiểm cho người bị hại; bị cáo đã có 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó, cáo trạng số 11/CT-VKS.BTU, ngày 05/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17-Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Bá V về tội cướp giật tài sản theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, sử dụng thủ đoạn nguy hiểm là dùng xe mô tô điều khiển để chiếm đoạt tài sản của nạn nhân, bị cáo đã từng bị kết án về tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội vô cùng nguy hiểm, chứng tỏ bị cáo xem thường luật pháp, ý thức bị cáo thực hiện việc phạm tội đến cùng, bất chấp hậu quả. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

-Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về vật chứng:

- 01 sợi dây chuyền màu vàng, dài 52cm, có khối lượng: 16,4665 gam đã trả lại cho bị hại bà Võ Thị H.

- 01 xe mô tô biển số 86B7 – 36082 do Phan Bá V sử dụng làm P tiện để thực hiện cướp giật tài sản ngày 15/4/2025. Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 86B7 – 36082 do bà Phan Thị Kim M đứng tên chủ sở hữu. Bà M không biết Phan Bá V sử dụng xe mô tô biển số 86B7 – 36082 để thực hiện cướp giật tài sản ngày 15/4/2025. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình thuận đã ra quyết định xử lý tài sản số: 8242 ngày 28/6/2025 trả lại xe mô tô biển số 86B7 – 36082 cho bà M là đúng quy định pháp luật.

- 01 điện thoại di động Iphone 11 đã trả lại cho Phan Bá V.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ.

Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT DỊNH:

1.Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tuyên bố: Bị cáo Phan Bá V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Bá V 05(năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 15/4/2025).

2.Về án phí HSST: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phan Bá V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (10/9/2025), để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ