- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN QUỐC D phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày: 14/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Kim Yến
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sang – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
NGUYỄN QUỐC D - Sinh năm 2003 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn BAn, xã HChính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (Nay là thôn BAn, xã HLiêm, tỉnh Lâm Đồng); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Á và bà Nguyễn Thị Bé L; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/8/2018, NGUYỄN QUỐC D bị Công an huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình phạt cảnh cáo về hành vi dùng dao đâm người khác gây thương tích; Ngày 24/6/2020, NGUYỄN QUỐC D bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 BLHS tại Bản án số 44/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 24/02/2022 (thời điểm phạm tội, Duy là người dưới 18 tuổi) đã được xóa án tích; Ngày 04/3/2025, NGUYỄN QUỐC D bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định số 05/QĐ-TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn: 12 tháng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy (hiện đang chấp hành). Bị cáo hiện đang chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3, phường Hàm Thắng, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh T – Sinh năm 2005 (có mặt). Địa chỉ: Thôn NThuận, xã HChính, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (Nay là: Xã HLiêm, tỉnh Lâm Đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D – Sinh năm 1957 (vắng mặt, không có lý do). Địa chỉ: Thôn TThành, xã HLiêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (Nay là: xã HLiêm, tỉnh Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/02/2025, NGUYỄN QUỐC D đến nhà bà Nguyễn Thị D (là bà ngoại của Duy) chơi. Tại đây, Duy nhớ lại việc bị Nguyễn Thị Minh T (là người yêu cũ của Duy) phản bội mình nên Duy đã mượn điện thoại bà Dưỡng nhắn tin nói dối hẹn Thư đến nhà bà Dưỡng để trả số tiền 500.000đồng mà Duy đã mượn của Thư trước đó, Thư tin tưởng nên đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Thư điều khiển xe mô tô đến nhà bà Dưỡng để gặp Duy lấy tiền. Thấy Thư đến đứng trước cổng, Duy nói: “đi vào đây đưa tiền”, khi Thư bước vào trong bên hông nhà, đến khu vực bàn ghế đá thì Duy đứng dậy kéo cánh cửa hông nhà và bóp ổ khóa cửa lại. Lúc này, Duy nắm tay kéo Thư vào bên trong ở phía nhà sau (gần khu vực bếp), đồng thời cầm 01 cây kéo bằng kim loại (có 02 lưỡi màu xám đen, dài khoảng 13,5cm, có tay cầm bọc nhựa màu đen uốn cong, dài 9,5cm, rộng 10cm) rồi đe dọa, khống chế, yêu cầu Thư ngồi xuống. Tại đây, Duy hỏi Thư: “sao mày hại tao?”, rồi Duy chửi và dùng lưỡi kéo cắt vào cổ chân phải của Thư gây thương tích, Thư khóc lóc, van xin Duy nhưng Duy vẫn khống chế Thư. Bà Dưỡng nghe tiếng ồn ào nên đứng ở khu vực bên ngoài cửa sổ bếp nói: “mày làm gì mà ồn ào vậy Duy, thả nó ra đi”, Duy trả lời: “con có làm gì đâu”. Thấy Duy không để ý nên Thư bung bỏ chạy ra phía khu vực cửa hông bếp để kêu cứu nhưng bị Duy bắt lại, dùng tay bóp cổ đưa Thư vào lại vị trí khu vực bếp rồi tiếp tục chửi bới, đe dọa và dùng kéo đâm một nhát vào vùng lưng trái và cẳng tay trái của Thư gây thương tích. Thư khóc lóc, van xin thì Duy nói: “mày im không, nếu không tao nhét vải vào miệng mày bây giờ”. Lúc này, bà Dưỡng ở trong nhà nghe được nên đến gần cửa sổ nhà bếp kêu Duy thả Thư ra nhưng Duy không đồng ý. Do cửa bếp đã bị Duy khóa, bà Dưỡng bị tật ở chân nên không làm gì được. Chị Thư tiếp tục năn nỉ, van xin Duy đừng đâm nữa nhưng Duy vẫn tiếp tục bóp cổ, khống chế Thư, lúc này Thư vẫn nắm chặt lưỡi kéo vì sợ Duy tiếp tục đâm. Bà Dưỡng đứng ngoài cửa sổ bếp nói: “Duy ơi, thả nó ra đi, công an bắt bây giờ, tao lạy mày đó!”, Duy nói: “con có làm gì đâu, chuyện của con ngoại xen vô làm gì”. Thời gian Duy khống chế chị Thư diễn ra khoảng 01 giờ thì bà Dưỡng dùng điện thoại liên hệ với mẹ của Duy nói báo cho Công an xã. Khi nghe tiếng xe máy, nghĩ là Công an đến nên Duy dùng tay phải kẹp chặt cổ, tay trái bóp miệng chị Thư lại rồi kéo vào bên trong nhà, nép sát vào tủ lạnh để tránh bị phát hiện. Khi biết có Công an đến, Duy đã bỏ Thư để tẩu thoát. Quá trình làm việc, NGUYỄN QUỐC D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong quá trình điều tra xác minh, ngày 28/3/2025 chị Nguyễn Thị Minh T đã tự nguyện làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với NGUYỄN QUỐC D đã gây ra thương tích cho Thư.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 190/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 13/3/2025 của Trung tâm giám định Y khoa
- Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận về thương tích của Nguyễn Thị Minh T như sau:
- Sẹo vết thương phần mềm vùng trước cổ phải kích thước nhỏ: (0,3 x 0,2)cm, do vật sắc nhọn tác động theo chiều hướng từ trước ra sau. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
- Sẹo vết thương phần mền vùng lưng trái kích thước nhỏ: (0,5 x 0,2 )cm, do vật sắc nhọn tác động theo chiều hướng từ sau ra trước. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Sẹo sây sát da vùng cẳng tay trái kích thước nhỏ: (0,6 x 0,1)cm, do vật sắt nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Sẹo vết thương phần mềm mặt mu đốt gần ngón 1 bàn tay trái kích thước nhỏ (0,7 x 0,2)cm, do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Sẹo vết thương phần mềm mặt lòng đốt giữa ngón 4 bàn tay phải kích thước nhỏ: (0,4 x 0,2)cm, do vật sắt nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Sẹo vết thương phần mềm mặt lòng đốt giữa ngón 5 bàn tay phải kích thước nhỏ: (0,3 x 0,2)cm, do vật sắt nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Sẹo vết thương phần mền mặt sau cẳng chân trái kích thước nhỏ (0,2 x 0,1)cm, do vật sắt nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Sẹo vết thương phần mền vùng gối phải kích thước nhỏ (0,3 x 0,1)cm, do vật sắt nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Sẹo vết thương phần mền vùng cổ chân phải kích thước nhỏ (2,2 x 0,1)cm, do vật sắt nhọn tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Vùng cổ chân trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, vật gây thương và chiều hướng tác động gây ra thương tích.
Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Minh T tại thời điểm giám định là: 10%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Vật chứng thu giữ:
01 cây kéo bằng kim loại, có 02 lưỡi màu xám đen, trên 02 mặt của 02 lưỡi kéo có chữ “KÉO NHÍP ĐB”, dài khoảng 13,5cm, nơi rộng nhất 3cm, có tay cầm bọc nhựa màu đen uốn cong, dài 9,5cm, rộng 10cm, trên bọc nhựa tay cầm có dòng chữ màu trắng, có 02 ngôi sao ở đầu và cuối dòng chữ “KEO NHIP CAM TU - CHAT LUONG CAO”; 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen, ổ hình chữ nhật, màu đen, bị rỉ sét, kích thước chiều dài từ đỉnh móc khóa đến đuôi ổ khóa 7,2cm, thân ổ khóa rộng 4,7cm, mặt trước thân ổ khóa có dập nổi dòng chữ “Yofi” màu trắng bằng kim loại, riêng chữ “O”, có một gạch ngang ở giữa, là những vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Lâm Đồng ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Lâm Đồng đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Lâm Đồng bảo quản, chờ xử lý.
Về dân sự: Nguyễn Thị Minh T không yêu cầu bồi thường gì và có đơn bãi nại cho NGUYỄN QUỐC D về hành vi cố ý gây thương tích.
Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKSKV12 ngày 10/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng truy tố: Bị cáo NGUYỄN QUỐC D về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo NGUYỄN QUỐC D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo NGUYỄN QUỐC D phạm tội “Giữ người trái pháp luật”. Phạt NGUYỄN QUỐC D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo NGUYỄN QUỐC D khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định:
Khoảng 19 giờ 05 phút ngày 26/02/2025, tại nhà bà Nguyễn Thị D, ở thôn Thuận Thành, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Thuận Thành, xã Hàm Liêm, tỉnh Lâm Đồng) do có mâu thuẫn về chuyện tình cảm giữa NGUYỄN QUỐC D và Nguyễn Thị Minh T nên Duy đã đóng ổ khóa cửa bên hông nhà và kéo Thư vào bên trong ở phía nhà sau rồi đóng trái khóa cửa lại, cầm 01 cây kéo bằng kim loại đe dọa, chửi bới, khống chế, giữ Thư lại và dùng kéo đâm nhiều nhát vào tay, chân, lưng của Thư gây thương tích 10%. Thời gian Duy khống chế Thư diễn ra khoảng 01 giờ thì Công an xã Hàm Liêm đến nên Duy đã thả Thư ra để tẩu thoát.
Bị cáo NGUYỄN QUỐC D có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi giữ người trái pháp luật xâm phạm đến quyền tự do của người khác do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giữ người trái pháp luật” được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo NGUYỄN QUỐC D khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, tại phiên tòa được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại, có 02 lưỡi màu xám đen, trên 02 mặt của 02 lưỡi kéo có chữ “KÉO NHÍP ĐB”, dài khoảng 13,5cm, nơi rộng nhất 3cm, có tay cầm bọc nhựa màu đen uốn cong, dài 9,5cm, rộng 10cm, trên bọc nhựa tay cầm có dòng chữ màu trắng, có 02 ngôi sao ở đầu và cuối dòng chữ “KEO NHIP CAM TU - CHAT LUONG CAO”; 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen, ổ hình chữ nhật, màu đen, bị rỉ sét, kích thước chiều dài từ đỉnh móc khóa đến đuôi ổ khóa 7,2cm, thân ổ khóa rộng 4,7cm, mặt trước thân ổ khóa có dập nổi dòng chữ “Yofi” màu trắng bằng kim loại, riêng chữ “O”, có một gạch ngang ở giữa.
Nguyễn Thị Minh T không yêu cầu bồi thường gì và có đơn bãi nại cho NGUYỄN QUỐC D về hành vi cố ý gây thương tích nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Ngày 04/3/2025, NGUYỄN QUỐC D bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định số 05/QĐ-TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn: 12 tháng về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 26/4/2025, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Thuận tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NGUYỄN QUỐC D, hiện nay NGUYỄN QUỐC D đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Theo quy định tại Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính thì NGUYỄN QUỐC D được miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đối với hành vi của NGUYỄN QUỐC D dùng kéo là hung khí nguy hiểm đâm Nguyễn Thị Minh T nhiều nhát, gây thương tích 10%, ngày 28/3/2025, Nguyễn Thị Minh T đã có đơn bãi nại, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với NGUYỄN QUỐC D. Do bị hại rút yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với NGUYỄN QUỐC D về tội: “Cố ý gây thương tích”. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Bình Thuận đã có Công văn đề nghị Công an xã Hàm Liêm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối NGUYỄN QUỐC D về hành vi cố ý gây thương tích theo quy định là phù hợp.
Bị cáo NGUYỄN QUỐC D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo NGUYỄN QUỐC D phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt: NGUYỄN QUỐC D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
NGUYỄN QUỐC D được miễn chấp hành phần thời gian còn lại của Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 05/QĐ-TA ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại, có 02 lưỡi màu xám đen, trên 02 mặt của 02 lưỡi kéo có chữ “KÉO NHÍP ĐB”, dài khoảng 13,5cm, nơi rộng nhất 3cm, có tay cầm bọc nhựa màu đen uốn cong, dài 9,5cm, rộng 10cm, trên bọc nhựa tay cầm có dòng chữ màu trắng, có 02 ngôi sao ở đầu và cuối dòng chữ “KEO NHIP CAM TU - CHAT LUONG CAO”; 01 ổ khóa bằng kim loại màu đen, ổ hình chữ nhật, màu đen, bị rỉ sét, kích thước chiều dài từ đỉnh móc khóa đến đuôi ổ khóa 7,2cm, thân ổ khóa rộng 4,7cm, mặt trước thân ổ khóa có dập nổi dòng chữ “Yofi” màu trắng bằng kim loại, riêng chữ “O”, có một gạch ngang ở giữa.
Hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Lâm Đồng theo Biên bản giao về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/7/2025.
Về án phí: Bị cáo NGUYỄN QUỐC D phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng (nếu có) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/8/2025). Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp; -VKSND khu vực 12 – Lâm Đồng; - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Lâm Đồng); - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |