vanban.org

Bản án 25/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị N và anh Nguyễn Nho Q.

Về con chung: Công nhận sự thảo thuận của các đương sự: Giao cả hai con chung là 02 con chung Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015 cho chị Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Nho Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung Anh Nguyễn Nho Q được quyền th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Nguyệt - Nguyễn Nho Quân"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị N và anh Nguyễn Nho Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 3 – THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:25/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/8/2025
Về việc:“Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và ông Lê Hữu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” thụ lý số 71/2025/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXX- ST, ngày 13 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự.

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm: 1993

Địa chỉ: Tổ dân phố G, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Nho Q, sinh năm 1982

HKTT: Tổ dân phố I, xã T, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang chấp hành án tại: Đ, Phân trại số F, Trại giam T, Huyện N, Tỉnh Thanh Hóa.

Chị N, Anh Q vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Nho Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 01/3/2011.

Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống làm cho vợ chồng thường xuyên xích mích, cãi cọ, anh Q chơi bời và bị xử lý hình sự về tội cướp giật tài sản, hiện nay đang phải chấp hành án tù tại trại giam T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Chị N và anh Q ly thân từ năm 2021 đến nay không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai người đó tự lo. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Nho Q.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống có 02 con chung là cháu Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và cháu Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015. Nay ly hôn, nguyện vọng của chị H là được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản và công nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Nho Q trình bày:

Anh Q và chị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng, qúa trình vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn, sống không có hạnh phúc. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và cháu Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015. Ly hôn anh đồng ý giao hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau này chấp hành án xong có điều kiện anh sẽ làm thủ tục xin thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Tại biên bản xác minh ngày 19 tháng 8 năm 2025, đại diện Ủy ban nhân dân xã T cung cấp thông tin: Anh Nguyễn Nho Q và chị Lê Thị N là vợ chồng có kết hôn có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T cấp ngày 01/3/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì cũng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là gì thì do anh Q và chị N không báo cáo chính quyền địa phương và cũng không làm đơn gửi chính quyền địa phương yêu cầu hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng nên chính quyền địa phương không nắm được.

Về con chung: vợ chồng có 2 con chung là 02 con chung là cháu Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và cháu Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015. Hiện 2 cháu đang sống chung với chị N. Điều kiện sức khỏe, sinh hoạt, học tập của 2 cháu đều tốt. Hiện nay anh Q đang chấp hành án tại trại giam T, chị N đang là lao động tự do thu nhập một tháng bao nhiêu thì chính quyền địa phương không nắm được.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tuân theo pháp luật: Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Nho Q.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình giao 2 con chung là Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và cháu Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

+ Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Nho Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 01/3/2011. Nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đến năm 2022 anh Q phạm tội và phải đi chấp hành án tại Trại giam T, kể từ đó vợ chồng không quan tâm đến nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Nay chị N và anh Q đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Q đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị N và anh Nguyễn Nho Q.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và cháu Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015. Nay ly hôn chị N và anh Q đều có nguyện vọng giao 2 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Do đó công nhận sự thỏa thuận của chị N và anh Q về phần nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: Chị N và anh Q không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lý lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273, 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Các Điều 55, 57, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thị N và anh Nguyễn Nho Q.

2. Về con chung: Công nhận sự thảo thuận của các đương sự: Giao cả hai con chung là 02 con chung Nguyễn Hùng A, sinh ngày 23/6/2011 và Nguyễn Hồng M, sinh ngày 10/11/2015 cho chị Lê Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Nho Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Anh Nguyễn Nho Q được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. 3. Về án phí: Chị Lê Thị N chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004484, ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa ( nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Thanh Hóa.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ