vanban.org

Bản án 25/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Nguyên M.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Nguyên M được ly hôn với anh Nguyễn Chiến Đ. Về nuôi con: Giao cho chị Lê Thị Nguyên M trực tiếp nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 18/3/2018 và cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/5/2021 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGD-MINHDAU"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Nguyên M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A - GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 /9/2025
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Trung Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kia và ông Trần Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A - Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2025/QĐHPT ngày 11 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Nguyên M, sinh năm 1982; căn cước: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chiến Đ, sinh năm 1985; căn cước: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai tại phiên tòa chị Lê Thị Nguyên M trình bày: Tôi và anh Nguyễn Chiến Đ tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thị xã A (nay là xã C), tỉnh Gia Lai tại Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 13/6/2017. Quá trình chung sống có phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân, do hợp nhau nên thường xuyên cãi vã nhau, tình trạng này lặp đi lặp lại nhiều lần vì thế vợ chồng không còn hạnh phúc. Sau đó, chúng tôi đã ly thân với tôi từ năm 2022 cho đến nay, không còn tình cảm vợ chồng nên không thể quay về đoàn tụ được. Hôm nay, tôi giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Về con chung tôi và anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 18/3/2018 và cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/5/2021, hiện tôi đang nuôi các con nên yêu cầu tiếp tục được nuôi các con. Tôi không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Chiến Đ, mặc dù đã được Tòa án Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng đều cố tình vắng mặt nên không trình bày quan điểm của anh Đ về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng Tòa án nhân dân khu vực A - Gia Lai đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về hôn nhân chị Lê Thị Nguyên M được ly hôn với anh Nguyễn Chiến Đ; về con chung, giao cho chị M nuôi các con chung đến khi trưởng thành và tự lực được. Về cấp dưỡng nuôi con, tại phiên tòa chị M không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí, buộc chị M phải chịu số tiền 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Lê Thị Nguyên M yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chiến Đ, hiện cư trú tại: Thôn T, xã C, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực A - Gia Lai.

Bị đơn anh Nguyễn Chiến Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nguyên M và anh Nguyễn Chiến Đ tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Thời gian sống chung giữa chị M và anh Đ có phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Đ đến để hòa giải, xét xử nhưng anh Đ không đến, vì thế Toà án không thể hoà giải được. Qua kết quả xác minh thì được biết vợ chồng anh Đ chị M có mâu thuẫn đã ly thân nhau là đúng sự thật. Tại phiên toà chị M trình bày vợ chồng mâu thuẫn và không còn tình cảm với nhau nên giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Xét thấy, chị M và anh Đ có mâu thuẫn và đã không còn chung sống với nhau, do vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chị Lê Thị Nguyên M được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ1, là có cơ sở.

Về con chung: Chị M và anh Đ1 02 con chung là cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 18/3/2018 và cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/5/2021, hiện chị M đang nuôi con và yêu cầu được tiếp tục nuôi các con. Qua tham khảo ý kiến của con thì có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, giao cho chị M tiếp tục nuôi con là cháu Nguyễn Minh C và cháu Nguyễn Tuấn A cho đến khi trưởng thành và tự lực được là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị M không yêu cầu anh Đ1 cấp dưỡng nuôi con. Vì thế, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 235, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Nguyên M.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Nguyên M được ly hôn với anh Nguyễn Chiến Đ.

2. Về nuôi con: Giao cho chị Lê Thị Nguyên M trực tiếp nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 18/3/2018 và cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/5/2021 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Nguyên N không yêu cầu anh Nguyễn Chiến Đ, cấp dưỡng nuôi con chung.

- Vì lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Nguyên M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 006609 ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Gia Lai). Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2025) các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ