- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dung - DŨng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Ngọc D đối với ông Nguyễn Ngọc D1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-3-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuyễn.
2. Bà Phan Thị Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 536/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Ngọc D, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Ngọc D trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông D1 có tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới. Ngày 11-12-2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hay cãi nhau, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, tính tình không hợp, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hiện tại vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu ly hôn với ông D1.
Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc Vương, sinh năm 1996; cháu Nguyễn Ngọc Vy, sinh ngày 08-12-2009. Cháu Vương đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Cháu Vy theo ai thì người đó chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc D1 trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà D về thời gian sống chung, thời gian kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian ly thân. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông đồng ý ly hôn với bà D.
Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc Vương, sinh năm 1996; cháu Nguyễn Ngọc Vy, sinh ngày 08-12-2009. Cháu Vương đã trưởng thành nên ông không yêu cầu giải quyết. Ông đồng ý giao cháu Vy cho bà D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội D: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 83 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D đối với ông D1. Về con chung: Cháu Vương đã trường thành nên không đặt ra giải quyết; giao cháu Vy cho bà D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Ngọc D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc D1, địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông D1, bà D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội D vụ án:
Về hôn nhân: Bà D, ông D1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của bà D, thấy rằng: Quá trình chung sống, giữa bà D, ông D1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không hợp, hay cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trẩm trọng, đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Tại bản ghi lời khai ngày 14-02-2025, ông D1 đồng ý ly hôn với bà D nên ghi nhận. Bà D được ly hôn với ông D1.
Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc Vương, sinh năm 1996; cháu Nguyễn Ngọc Vy, sinh ngày 08-12-2009. Cháu Vương đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Xét thấy, tại biên bản ghi lời khai ngày 14-02-2025, ông D1 đồng ý giao cháu Vy cho bà D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tại biên bản 06-3-2025 (bút lục 33), cháu Vy có nguyện vọng sống chung với bà D. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Vy cho bà D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con. Ông D1 được quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông D1, bà D trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Trương Ngọc D phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 56, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Ngọc D đối với ông Nguyễn Ngọc D1. Bà D được ly hôn với ông D1.
2. Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc Vương, sinh năm 1996; cháu Nguyễn Ngọc Vy, sinh ngày 08-12-2009. Cháu Vương đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết; giao cháu Vy cho bà D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận bà D không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con.
Ông D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà D, ông D1 không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Bà Trương Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014668 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh (ghi nhận bà D đã nộp xong).
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC.THADS huyện Gò Dầu; - UBND xã Bàu Đồn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Nguyện |