- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Tấn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HNGĐ - ST Ngày: 13 - 8 - 2025 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Thới
2. Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 212/2025/TLST– HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1986 (có mặt)
Trú tại: Số 121/11 ấp AT, xã LH, tỉnh Vĩnh Long
Địa chỉ cũ: Số 121/11 khóm AT, thị trấn LH, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Trú tại: Số 121/11 ấp AT, xã LH, tỉnh Vĩnh Long
Địa chỉ cũ: Số 121/11 khóm AT, thị trấn LH, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2025, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân N trình bày:
Chị N và anh Nguyễn Tấn T tiến tới hôn nhân năm 2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ngày 18/9/2007. Vợ chồng chung sống thường xuyên cự cãi do bất đồng ý kiến, anh T gia trưởng nếu chị có ý kiến gì trong gia đình là anh T đánh chị, lúc đầu chị có báo chính quyền địa phương đến giải quyết nhưng không có lập biên bản vì nói mâu thuẫn gia đình tự giải quyết nên từ đó về sau mỗi lần chị bị anh T đánh đập thì không có báo chính quyền địa phương.
Do các con còn nhỏ nên chị N cố gắng chịu đựng để lo cho con, đến năm 2024 mâu thuẩn phát sinh trầm trọng do anh T ghen tuông vô cớ, uống rượu về bạo hành chị N nhưng không ai dám can ngăn. Từ tháng 2/2025 sau khi chị bị anh T đánh đập thì bỏ nhà trốn đi, không dám gặp anh T đến khi chị N nộp đơn ly hôn có quay về nhà thì bị anh T đuổi đi.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, chị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tấn T.
- Về con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Tấn Ngh, sinh ngày 15/02/2008, Nguyễn Duy M, sinh ngày 10/10/2011, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 30/10/2013 và Nguyễn Phúc Thh, sinh ngày 11/7/2022, hiện các con đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu nuôi 04 con chung
-Về cấp cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 04 con chung
- Về tài sản chung: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết
Bị đơn: anh Nguyễn Tấn T không có văn bản nêu ý kiến về các yêu cầu của chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn, nuôi con”, do bị đơn hiện đang cư trú tại thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long). Căn cứ vào quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Tấn T được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào trích lục kết hôn số 44/TLKH-BS ngày 21/02/2019 của Ủy ban nhân dân xã Phú Đức thì chị Nguyễn Thị Xuân N và anh Nguyễn Tấn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 18/9/2007, nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T đã có nhiều bất hòa, mâu thuẫn trầm trọng, chị N và anh T không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mạnh ai nấy sống, mục đích hôn nhân không đạt được, từ tháng 02 năm 2025 đến nay chị N không dám về nhà vì sợ bị anh T đánh đập. Anh T có hành vi bạo lực gia đình với chị N, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh T không có văn bản phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, nhưng anh T vắng mặt không có lý do, nên không có khả năng hàn gắn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Tấn Ngh, sinh ngày 15/02/2008, Nguyễn Duy M, sinh ngày 10/10/2011, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 30/10/2013 và Nguyễn Phúc Thh, sinh ngày 11/7/2022, hiện các con đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu nuôi 04 con chung. Xét thấy, Nguyễn Phúc Thh hiện nay do chị N đang nuôi dưỡng, Nguyễn Tấn Ngh, Nguyễn Duy M, Nguyễn Duy Th cũng có nguyện vọng sống cùng với chị N, anh T không có ý kiến gì về việc yêu cầu được 04 con chung của chị N. Để đảm bảo sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần, đồng thời để đảm bảo quyền lợi của trẻ em sau khi ly hôn, nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao Nguyễn Tấn Ngh, sinh ngày 15/02/2008, Nguyễn Duy M, sinh ngày 10/10/2011, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 30/10/2013 và Nguyễn Phúc Thh, sinh ngày 11/7/2022 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 04 con chung, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Xuân N phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về về Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Xuân N được ly hôn với anh Nguyễn Tấn T.
2. Về con chung: Giao 04 con chung là: Nguyễn Tấn Ngh, sinh ngày 15/02/2008, Nguyễn Duy M, sinh ngày 10/10/2011, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 30/10/2013 và Nguyễn Phúc Thh, sinh ngày 11/7/2022 cho chị Nguyễn Thị Xuân N tiếp tục nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi 04 con chung, nên không xem xét.
4. Về tài sản chung: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Xuân N chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002158 ngày 23/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1-Vĩnh Long); chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Xuân N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Tấn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận - Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long - VKSND khu vực 1-Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 1-Vĩnh Long; - UBND xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ngọc Tú |