vanban.org

Bản án 25/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Công B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Tăng Tiến Đ, sinh ngày 09/6/2017 đối với bà Trần Ngọc Tr.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Công B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Tăng Ngọc H, sinh ngày 13/10/2015 đối với bà Trần Ngọc Tr. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Tăng Công B phải chịu 300.000 đồng, ông Tăng Công B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "thay đổi nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Công B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Tăng Tiến Đ, sinh ngày 09/6/2017 đối với bà Trần Ngọc Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự ra Quyết định
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 - 02 - 2025
Về việc thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Mộng Chi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Đẳng

Bà Đoàn Thảo Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 373/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tăng Công B, sinh năm: 1989 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Tổ 3, ấp 10 Huỳnh, xã Đ H, huyện A M, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Bà Trần Ngọc Tr, sinh năm: 1993 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp 4, xã K T, huyện U M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Tăng Công B trình bày:

Ông và bà Trần Ngọc Tr đã ly hôn theo quyết định số 80/2019/QĐST -HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, theo nội dung quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự về quan hệ nuôi con chung là Tăng Ngọc H, sinh ngày 13/10/2015 và Tăng Tiến Đ, sinh ngày 09/06/2017 sẽ do bà Trần Ngọc Tr là người trực tiếp nuôi dưỡng. Vào ngày 08 tháng 09 năm 2024 ông được người hàng xóm tên Thùy Linh gửi 01 đoạn video, theo nội dung video con ông là Tăng Tiến Đ bị bà ngoại là bà Rẻn bỏ trước cửa, không cho vào nhà, cửa nhà đã đóng, thời điểm quay video trời tối, sau đó Thùy Linh có trình báo sự việc đến Công an địa phương can thiệp, khi được Công an can thiệp thì bà Rẻn có cho Đ vào nhà. Do bức xúc khi nhiều lần chứng kiến bà Rẻn đánh, hành hung, bỏ Đ ngoài sân không cho vào nhà, bao gồm nhiều lần bỏ đói (theo trình bày tự nhiên của Đạt) nên Linh có đăng tải video trên lên mạng xã hội Facebook. Sau khi đăng tải, phía dưới bài đăng có nhiều bình luận phê phán, lên án hành động của bà Rẻn. Đặc biệt hơn trong đó có 01 bình luận dưới bài đăng là gửi 01 video, theo nội dung video phần bình luận cho thấy bà Rẻn đang dùng chân đè đầu Đ xuống nền gạch, dùng dây trói 02 tay mặc cho Đ khóc, vùng vẫy. Sau khi trói hai tay Đ bà Rẻn bỏ Đ vào bao tải cột chặt miệng bao. Xét thấy giữa ông và bà Trần Ngọc Tr trước đó là vợ chồng nhưng do phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể tiếp tục duy trì hôn nhân nên đã ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện An Minh. Bà Tr được quyền nuôi 02 con chung, tuy nhiên do bà Tr bận việc kinh doanh giao con cho bà Rẻn là người trực tiếp nuôi dưỡng Ngọc Hoa và Tiến Đ. Trong quá trình Đ chung sống cùng bà Rẻn, Đ nhiều lần bị bà Rẻn hành hung, đánh đập, bỏ ngoài sân không cho vào nhà, bỏ đói...,bà Tr biết rõ sự việc nhưng bà Tr không có động thái can ngăn để sự việc Đ bị bà Rẻn hành hung trong thời gian dài, ngoài ảnh hưởng thương tích cơ thể Đ phải trải qua tổn thương tâm lý nặng nề nên ông làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu bà Tr giao hai con chung cho ông nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, ông B xác định ông thay đổi yêu cầu khởi kiện ông không yêu cầu thay đổi nuôi cháu Tăng Ngọc H mà chỉ yêu cầu thay đổi nuôi cháu Tăng Tiến Đ.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Ngọc Tr trình bày:

Sau khi ly hôn con chung do bà nuôi dưỡng, ông B không đến thăm nom chăm sóc con nay tôi nuôi con lớn thì yêu cầu thay đổi nuôi con thì bà không đồng ý, mẹ bà không có hành hạ đánh đạp con bà, sự việc cháu Đ bị bỏ vào bao là xảy ra sau khi bà và ông B ly hôn tuy nhiên sự việc đã quá lâu, khi đó vì cháu Đ lì nên mẹ bà bỏ cháu vô bao với mục đích hù cho cháu sợ để không lì nữa, thời điểm đó cháu cũng không bị thương hay ảnh hưởng gì đến sức khỏe, đến nay bà vẫn nuôi cho các con đi học bình thường. Đối với việc ông B yêu cầu thay đổi người nuôi con bà không đồng ý.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến ngày đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy, sau khi ly hôn con chung giao cho bà Tr nuôi dưỡng, bà Tr vẫn đủ điều kiện chăm sóc, đảm bảo sự phát triển, bình thường của con chung; hành vi của bà ngoại cháu chưa đủ yếu tố cấu thành tội ngược đãi hành hạ cháu; ông B phải đi làm xa khó đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng con; để tránh sự thay đổi môi trường sống của cháu Đ từ đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 69, 81, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình không chấp nhận yêu cầu của ông B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Tăng Tiến Đ, đình chỉ yêu cầu thay đổi nuôi con đối với cháu Tăng Ngọc H; về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về lệ phí, án phí của Tòa án các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Ông Tăng Công B yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Tăng Ngọc H, Tăng Tiến Đ đối với bà Trần Ngọc Tr, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ông B thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông không yêu cầu thay đổi nuôi con đối với cháu Tăng Ngọc H, đồng ý để cháu Hoa cho bà Tr tiếp tục nuôi dưỡng. Việc ông B thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông B cho rằng bà Tr bận việc kinh doanh giao con cho bà Rẻn là người trực tiếp nuôi dưỡng Ngọc Hoa và Tiến Đ, trong quá trình Đ chung sống cùng bà Rẻn, Đ nhiều lần bị bà Rẻn hành hung, đánh đập, bỏ ngoài sân không cho vào nhà, bỏ đói, bà Tr biết rõ sự việc nhưng bà Tr không có động thái can ngăn để sự việc Đ bị bà Rẻn hành hung trong thời gian dài, ngoài ảnh hưởng đến tâm lý của con nên ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu bà Tr giao con chung Tăng Tiến Đ cho ông nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình quy định: “2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

Xét thấy, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 80/2019/QĐST-NHGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang thì sau khi ly hôn bà Tr được giao quyền nuôi con chung tên Tăng Ngọc H và Tăng Tiến Đ. Sau khi ly hôn thì bà Tr và hai con sinh sống cùng mẹ ruột của bà Tr là bà Nguyễn Hồng Rẻn tại ấp 4, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Tại Văn bản số 33/VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh về việc kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự có nội dung “Cháu Tăng Tiến Đ sinh sống cùng với bà Nguyễn Hồng Rèn, ông Trần Trang Kía (ông, bà Ngoại của Đạt), chị Trần Ngọc Tr (mẹ ruột của Đạt), Lê Vũ Luân (cha dượng), Tăng Ngọc H (chị ruột Đạt) và Trần Ngọc Như (em cùng mẹ khác cha với Đạt) tại nhà thuê ở ấp 4, xã Khánh Tiến, huyện U Minh. Quá trình chung sống, Đ sinh hoạt, ăn uống và đi học tập bình thường như những đứa trẻ khác. Vào năm 2021, do cháu Đ phá phách và cắn tay của chị ruột tên Tăng Ngọc H bà rèn luyện dùng chân đè lên đầu, lên ngực để khống chế và dùng dây vải trói hai tay cháu Đ lại, rồi bỏ vào bao (dùng để đựng lúa) buộc miệng lại nhằm mục đích răn đe, dạy dỗ, không mang tính chất hành hạ, ngược đãi. Từ sau năm 2021 đến ngày 07/9/2024, cháu Đ vẫn ăn uống và sinh bình thường, do trong quá trình phát triển cháu Đ hiếu động thường xuyên phách đồ đạc, gây chuyện với chị, em trong nhà nên bà Rẻn có dùng tay đánh tay của Đ để dạy dỗ, răn đe. Đối với những thương tích trên người của Đ là do quá trình vui chơi sơ ý bị va đập, đạp xe tự té ngã nên hình thành các tích tích nhỏ, lâu ngày lành lặn. Do đó, hành vi của bà Nguyễn Hồng Rẻn không thỏa mãn dấu hiệu của tội “Ngược đãi hoặc hành hạ ... cháu…” theo quy định tại Điều 185 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện U Minh căn cứ 2 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 683/QĐ-ĐTTH, ngày 11/11/2024 là có căn cứ và quy định pháp luật đúng quy định của pháp luật”. Tại phiên tòa ông B cũng xác định chỉ vì khi ly hôn phía gia đình bà Tr cấm ông thăm nom con mà từ sau khi ly hôn đến nay ông không một lần đến thăm hai con chung và cũng không một lần tự nguyện chu cấp cho hai con chung. Mặt khác, tại biên bản về việc ghi nguyện vọng con chung của Tòa án nhân dân huyện U Minh cháu Tăng Tiến Đ trình bày hiện nay cháu đang được đi học và có nguyện vọng được sống cùng với bà Trần Ngọc Tr. Do đó, không đủ căn cứ để xác định bà Tr không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử có cơ sở không chấp nhận yêu cầu của ông B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh là phù hợp nên được chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu không được chấp nhận nên ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 244; khoản 1 Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Công B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Tăng Tiến Đ, sinh ngày 09/6/2017 đối với bà Trần Ngọc Tr.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Công B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Tăng Ngọc H, sinh ngày 13/10/2015 đối với bà Trần Ngọc Tr.

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Tăng Công B phải chịu 300.000 đồng, ông Tăng Công B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006741 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ