- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng vay giữa Ngân hàng CSXH với bà Nguyễn Thị Chông"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 217, Điều 273 Bộ…
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/DS-ST Ngày: 26-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoàng Kiệt.
2. Bà Lý Diệu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng: Vụ án không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2024/TLST- DS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS, ngày 18/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐXXST-DS, ngày 10/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Trụ sở chính: Số 169, phố L, phường H, quận M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, chức vụ Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện U, tỉnh Kiên Giang. Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hà Th, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T huyện U, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/05/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ch và Ông Nguyễn Hà Th có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện U Minh Thượng với tổng số tiền vay là 77.000.000 đồng cụ thể như sau:
+ Vay Chương trình hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, mã món vay 6600000707732015, số tiền vay là 40.000.000 đồng, vay ngày 16/06/2016, đến hạn gốc ngày 07/06/2019. Hiện nay món vay trên đã quá hạn gốc 40.000.000 đồng từ ngày 07/06/2019, lãi tồn đến ngày 24/05/2024 là 4.794.074 đồng.
+ Vay chương trình giải quyết việc làm, mã món vay 6600000710656004, số tiền 25.000.000 đồng, vay ngày 29/06/2017 đến hạn gốc ngày 07/06/2022. Hiện nay, món vay đã quá hạn gốc 25.000.000 đồng từ ngày 07/06/2022, lãi tồn đến ngày 24/05/2024 là 11.365.249 đồng.
+ Vay chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, mã món vay 6600000708474876, số tiền vay 12.000.000 đồng, vay ngày 22/09/2016 đến hạn gốc 07/09/2021, món vay đã quá hạn từ ngày 18/05/2023 số tiền gốc 12.000.000 đồng, lãi tồn đến 24/05/2024 là 6.269.285 đồng. Từ tháng 12/2023 đến nay bà Ch và ông Hà Thanh không có trả lãi và gốc cho Ngân hàng chính sách.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C yêu cầu Tòa án buộc Bà Nguyễn Thị Ch và Ông Nguyễn Hà Th phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội phòng giao dịch huyện U Minh Thượng số tiền vay gốc là: 77.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/3/2025 là 28.295.927 đồng, đồng thời yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn Bà Nguyễn Thị Ch và Ông Nguyễn Hà Th được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ:
- Tài liệu nguyên đơn Ngân hàng chính sách cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 24/5/2024; Đơn xác nhận nơi cư trú của bị đơn; sổ vay vốn, Sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu hồi – dư nợ; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 10/6/2016; giấy đề nghị vay vốn hỗ trợ việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; Giấy ủy quyền của Ngân hàng chính sách ngày 27/5/2020.
- Tài liệu bị đơn cung cấp: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với Bà Nguyễn Thị Ch và Ông Nguyễn Hà Th.
. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng C huyện U Minh Thượng với bị đơn Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Cụ thể Nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu Tòa án buộc Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện U Minh Thượng số tiền vay gốc là: 77.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/3/2025 là 28.295.927 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 105.295.927 đồng (một trăm lẻ năm triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng), đồng thời yêu cầu ông Thanh, bà Ch phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng chính sách.
. Xét về nội dung tranh chấp: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ T yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà Chông và ông Thanh phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền vay gốc tổng cộng là 77.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/3/2025 là 28.295.927 đồng, đồng thời yêu cầu ông Thanh, bà Chông phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 đến khi trả dứt các khoản nợ cho Ngân hành chính sách.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Nguyễn Thị Chông và ông Nguyễn Hà Thanh có vay tiền của Ngân hàng chính sách theo Chương trình hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn với số tiền vay là 40.000.000 đồng vào ngày 16/06/2016. Vay theo chương trình giải quyết việc làm, số tiền 25.000.000 đồng vào ngày 29/06/2017 và vay theo Chương trình Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, số tiền vay 12.000.000 đồng vào ngày 22/09/2016. Hiện tại bà Chông và ông Thanh còn nợ Ngân hàng C huyện U Minh Thượng số tiền vay gốc là 77.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/32025 là 28.295.927 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 105.295.927 đồng.
Xét việc bà Nguyễn Thị Chông và ông Nguyễn Hà Thanh vay tiền của Ngân hàng C nhưng khi đến hạn lại không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chính sách là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định của Bộ luật dân sự. Do đó, Ngân hàng chính sách khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Chông và ông Nguyễn Hà Thanh phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền vay còn thiếu (của 03 khoản vay) tổng cộng là 105.295.927 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Hội đồng xét xử thống nhất buộc Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C huyện U Minh Thượng số tiền vay gốc và lãi (của 03 khoản vay theo Chương trình hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, Chương trình giải quyết việc làm và Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường) tổng cộng là 105.295.927 đồng.
Ngoài số tiền trên Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th còn phải tiếp tục chịu tiền lãi từ ngày 27/3/2025 đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng chính sách theo mức lãi suất đã thỏa thuận với Ngân hàng chính sách trong hồ sơ vay vốn.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th phải chịu tiền án phí là 5.265.000 đồng (năm triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 217, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C đối với bị đơn Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
2. Buộc Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C (phòng giao dịch huyện U Minh Thượng) số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày 26/3/2025 là 105.295.927 đồng (một trăm lẻ năm triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng (trong đó tiền vay gốc là 77.000.000 đồng, tiền lãi là 28.295.927 đồng).
Ngoài số tiền trên, buộc Nguyễn Thị Chông, Ông Nguyễn Hà Th còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng C (phòng giao dịch U Minh Thượng) số tiền lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng C (theo mức lãi suất đã thỏa thuận với Ngân hàng chính sách trong hồ sơ vay vốn).
3. Về án phí dân sự: Buộc Bà Nguyễn Thị Ch, Ông Nguyễn Hà Th phải chịu tiền án phí là 5.265.000 đồng (năm triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát ND huyện U Minh Thượng; - Chi cục Thi hành án DS huyện U Minh Thượng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Khanh |