- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Cao S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HSST Ngày: 19/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Thúy Hảo
2. Ông Hồ Sĩ Tiến
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 390/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Cao S, tại tỉnh Hà Tĩnh; HKTT và nơi ở trước khi bị bắt: xã Tân Hưng, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Hoàng Cao H; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ, con.
Tiền án: 01, cụ thể: + Ngày 21/7/2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt Sơn 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2015/HSST, sau đó S kháng cáo, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chấp nhận kháng cáo, tuyên phạt Hoàng Cao S 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số: 129/2015/HSPT.
+ Ngày 04/02/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu tuyên phạt Hoàng Cao S 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2016/HSST. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt tại Bản án phúc thẩm số: 129/2015/HSPT, Hoàng Cao S phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 06 tháng tù. Ngày 20/4/2016, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra Bản án hình sự phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Hoàng Cao S đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2016/HSST, giữ nguyên hình phạt bản án sơ thẩm.
Ngày 30/01/2021, Hoàng Cao S chấp hành xong án phạt tù của 02 bản án trên. Hoàng Cao S đã hoàn thành việc đóng án phí của các bản án trên, nhưng chưa thi hành trách nhiệm dân sự về việc trả lại số tiền 6.250.000 đồng cho bà Huỳnh Thị C theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2016/HSST đã tuyên. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này - 28/9/2023, Hoàng Cao S chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không
Nhân thân: Ngày 07/12/2012, Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Hoàng Cao S vào Trường Giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 26/01/2014, chấp hành xong.
Bị bắt ngày 29/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (có mặt)
Bị hại:
1. Anh Phạm Đình N; địa chỉ: phường Hoài Hương, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định
2. Anh Phạm Hồng K; địa chỉ: phường Hoài Hương, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định
(các bị hại đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/9/2023, tàu cá mang số hiệu BV98434TS cập Cảng Incomap, địa chỉ: Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau đó, anh Phạm Đình N và anh Phạm Hồng K là thuyền viên trên tàu để 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Samsung Galaxy note 10, màu đen; 01 chiếc nhãn hiệu Vivo 1906, màu xanh) trong Cabin tàu rồi đi cột dây neo. Lúc này, Hoàng Cao S là người đi nhờ tàu cá BV98434TS từ biển vào bờ đã vào Cabin thu dọn đồ dùng cá nhân để chuẩn bị lên bờ về nhà thì nhìn thấy 02 chiếc điện thoại của anh N và anh K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. S liền lấy 02 chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng rời khỏi tàu lên đất liền và đi bộ đến tiệm mua bán điện thoại di động “NK”, địa chỉ: Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bán chiếc điện thoại hiệu Vivo 1906 cho anh Đồng Trường L với giá 800.000 đồng. Nhận tiền xong, S đi bộ đến phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để bắt xe ôm về nhà thì nhìn thấy anh K và anh N đang chạy bộ hướng về phía mình, do lo sợ bị phát hiện nên S đã ném chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 10 vào bãi cỏ ở gần đó. Gặp được S, anh N và anh K hỏi về 02 chiếc điện thoại bị mất trộm nhưng S không thừa nhận mình đã lấy nên anh N và anh K đã yêu cầu S đến trụ sở Công an Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm việc. Lúc này, S mới thừa nhận mình đã lấy 02 cái điện thoại di động của anh N và anh K và chỉ chỗ đã ném chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy note 10 của anh K nhưng không tìm thấy. Sau đó, S dẫn anh N đến tiệm mua bán điện thoại di động “NK” gặp anh L chuộc lại chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 1906 với giá 800.000 đồng trả lại cho anh N. Sau khi nhận được điện thoại, anh N và anh K đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra tố giác hành vi phạm tội của S.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 159/KL-HĐĐG ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND thành phố Vũng Tàu, kết luận: “01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy Note 10, đã qua sử dụng trị giá 2.100.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 1906, đã qua sử dụng trị giá 1.200.000 đồng” (BL 81 - 82).
Quá trình điều tra, Hoàng Cao S khai nhận hành vi trộm cắp tài sản, công nhận kết quả định giá. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai người làm chứng, người bị hại, người có liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ (BL 36 - 43).
Việc thu giữ, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, số Imei 868613040108898 do S chiếm đoạt của anh Phạm Đình N, ngày 07/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả lại cho anh N.
Trách nhiệm dân sự trong vụ án:
- Anh Phạm Đình N đã nhận lại tài sản của mình nên không yêu cầu Hoàng Cao Sơn phải bồi thường dân sự.
- Anh Phạm Hồng K yêu cầu Hoàng Cao S phải bồi thường số tiền 2.100.000 đồng.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKSTPVT ngày 11/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Hoàng Cao S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Hoàng Cao S về tội “Trộm cắp tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Cao S mức án từ 09 đến 12 tháng tù.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội mà Viện kiểm sát nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra lại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/9/2023, tại Cabin tàu cá mang số hiệu BV 98434TS đang neo đậu tại Cảng Incomap, địa chỉ: phường 5 thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hoàng Cao S đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 1906, màu xanh của anh Phạm Đình N, trị giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy Note 10 của anh Phạm Hồng K, trị giá 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm ngàn đồng). Tổng trị giá tài sản S chiếm đoạt là 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm ngàn đồng).
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Vì vậy, hành vi bị cáo đã thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra; nhân thân và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và trật tự an toàn xã hội.
Về nhân thân: Bản thân bị cáo là thanh niên trưởng thành, có đủ sức khỏe để lao động chân chính nuôi sống bản thân, bị cáo đã từng nhiều lần bị xét xử, bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm pháp luật về xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa bản thân, không làm ăn lương thiện mà sa vào ăn chơi, lêu lổng, không có việc làm ổn định và tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án theo Bản án số: 129/2015/HSPT của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, chưa được xóa án tích nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”.theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra và tại Tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối hận về hành vi của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Phạm Đình N đã nhận lại tài sản của mình nên không yêu cầu Hoàng Cao S phải bồi thường dân sự nên không xem xét.
- Anh Phạm Hồng K yêu cầu Hoàng Cao S phải bồi thường giá trị tài sản theo định giá là 2.100.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho anh K số tiền trên nên ghi nhận và buộc bị cáo S phải bồi thường cho anh K số tiền 2.100.000đ.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, số Imei 868613040108898 do S chiếm đoạt của anh Phạm Đình N, ngày 07/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả lại cho anh N là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường cho bị hại theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Cao S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Hoàng Cao S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 9 năm 2023.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Cao S phải bồi thường cho anh Phạm Hồng Kông số tiền 2.100.000đ (hai triệu một trăm ngàn đồng)
[3] Về vật chứng: Đã xử lý xong
[4] Về án phí: Bị cáo Hoàng Cao S phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công an thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu hồ sơ vụ án
Phạm Thị Hiếu
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Ngô Thị Thúy Hảo
Hồ Sĩ Tiến
Phạm Thị Hiếu Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Công an tỉnh BR-VT (PC06, PC10);
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công an thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
- Bị cáo; bị hại; NCQL&NVLQ
- Lưu hồ sơ vụ án
Phạm Thị Hiếu
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Công an tỉnh BR-VT (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Vũng Tàu; - Công an thành phố Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Bị cáo; bị hại; NCQL&NVLQ - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Thị Hiếu |