vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 31/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 điều 145 ; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 55; khoản 2 điều 56; điều 38 BLHS Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân C 38 ( ba mươi tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với hình phạt còn lại bị cáo chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của bản án số 44/2023 /HSST n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân giao cấu với trẻ em - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25 /2024/HS- ST
Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hương

-Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hoà

Bà Dương Thị Ngọc Trang, giáo viên trường THPT Bỉm Sơn, Tx Bỉm Sơn, tỉnh Thanh hoá

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Lan, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huấn- Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử kín vụ án hình sự thụ lý số 18/TLST- HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1997, tại huyện Y , tỉnh N ; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 7B xã Y , huyện Y , tỉnh N ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh ; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân P sinh năm 1963 và bà: Bùi Thị K sinh năm 1967; bản thân chưa có vợ, con. tiền án: không; Tiền sự : không . Về nhân thân: Ngày 27/11/2023 bị Toà án nhân dân huyện T tỉnh P xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” ( do bị cáo phạm tội nghiêm trong do lỗi vô ý nên không coi là tiền án). Bị tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện tạm giam tại nhà tạm giữ, tạm giam công an thị xã Bỉm Sơn. Bị cáo có mặt tại phiên toà. Người bị hại: Cháu Hồ Ngọc Á sinh ngày 15/10/2007 Địa chỉ: Thôn 1, xã Q , thị xã B , tỉnh T Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Đỗ Thị Thu H sinh năm 1987 ( mẹ đẻ cháu Hồ Ngọc A) Địa chỉ: Thôn 1, xã Q , thị xã B , tỉnh T ( cháu Hồ Ngọc Á và chị Đỗ Thị Thu H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Hồ Ngọc Á: Bà Lê Thị P, trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hoá. Bà Phượng có mặt tại phiên toà Người làm chứng: 1.Cháu Lê Thị Phương A sinh ngày 01/11/2007 Người đại diện theo pháp luật của cháu Phương Anh: Chị Đỗ Thị T mẹ đẻ cháu Lê Thị Phương A ( cháu Lê Thị Phương Anh và chị Đỗ Thị T vắng mặt) 2. Cháu An Văn C sinh ngày 17/3/2007 Người đại diện theo pháp luật của cháu An Văn C: Chị Nguyễn Thị T mẹ đẻ cháu An Văn C ( cháu An Văn C và chị Nguyễn Thị T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân C làm nghề lao động tự do. Tháng 7/2023, Chưởng sử dụng tài khoản facebook có tên “Vũ Tuấn” kết bạn facebook với cháu Hồ Ngọc Á có tên facebook là “Nguyễn Á”. Sau khi kết bạn, cả hai thường nhắn tin trò chuyện với nhau. Á nói cho C biết Á sinh ngày 15/10/2007, vừa học xong lớp 10Trường THPT Lê Hồng P nên C biết rõ Ánh chưa đủ 16 tuổi.

Đầu tháng 8/2023, C và Á phát sinh tình cảm yêu đương nam nữ. Trong thời gian yêu nhau, từ ngày 25/8/2023 đến ngày 05/10/2023, Nguyễn Xuân C đã 05 lần giao cấu với cháu Hồ Ngọc Á. Cả 05 lần giao cấu này, cháu Hồ Ngọc Á đều chưa đủ 16 tuổi. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Chiều ngày 25/8/2023 (lúc này Ánh 15 tuổi 10 tháng 11 ngày), C bảo Á đi taxi ra ngoài bệnh viện đa khoa N rồi đón Á đưa Á đến khách sạn V thuộc phường P , thành phố N . Sau đó cả hai vào phòng (số phòng nay C và Á không nhớ), Á đi tắm, C nằm trên giường đợi. Sau khi Á tắm xong, C trao đổi với Á về việc quan hệ tình dục và C sẽ quay video làm kỷ niệm thì Á đồng ý. C và Á nằm trên giường hôn nhau. C dùng tay sờ vú Á rồi cởi quần áo của Á và của C ra, dùng tay sờ vào bộ phận sinh dục của Á một lúc rồi nằm lên người Á, đưa dương vật của mình vào âm đạo của Á . C giao cấu với Á khoảng 20 phút thì xuất tinh vào bên trong âm đạo của Á.

Sau lần thứ nhất này, C và Á thống nhất với nhau, bắt đầu từ tuần đầu tiên của tháng 9, cứ chiều thứ năm hàng tuần, do Á được nghỉ học nên cả hai sẽ quan hệ tình dục với nhau (hành vi thực hiện tương tự như trên). Trong đó xác định:

Lần thứ 2, 3, 4: Chưởng giao cấu với Á tại khách sạn Q, thị xã B, tỉnh T. Sau 04 lần giao cấu, đến ngày 20/9/2023, Ánh phát hiện có thai nên ngày 21/9/2023, C đưa Á đến Bệnh viện đa khoa thị xã B siêu âm. Kết quả: Hồ Ngọc Á đã có thai tương đương 06 tuần. Á nói với C sẽ phá thai nhưng C không đồng ý nên Á đã lên mạng facebook tự đặt mua thuốc phá thai để uống rồi thông báo cho C biết việc Á đã phá thai thành công.

- Lần thứ 5: Vào trưa thứ năm ngày 05/10/2023 (lúc này Ánh 15 tuổi 11 tháng 21 ngày), C đón Á đến khách sạn Q , thuê phòng như các lần trước. Khi lên phòng, C trao đổi với Á sẽ quay lại video quan hệ tình dục để làm kỷ niệm và được Á đồng ý. Sau đó cả hai thực hiện hành vi giao cấu như các lần trước khoảng 30 phút nhưng C không xuất tinh được nên dừng lại.

Sau ngày 05/10/2023, C và Á không còn quan hệ tình dục với nhau nữa. Đến cuối tháng 12/2023, C và Á chia tay nhau. Á chặn liên lạc với C . Sau đó, C nhiều lần níu kéo Á quay lại nhưng không được nên đã nhắn tin cho bạn của Á là An Văn C và Lê Thị Phương A kể về việc đã quan hệ tình dục với Á dẫn đến Á có thai và quay lại video. Sau đó, Chưởng gửi thêm hình ảnh chụp màn hình từ facebook “Vũ Tuấn” hình ảnh của Hồ Ngọc Á và tiêu đề “Full clip 37p e 2k7 học sinh thpt lê hồng phong bỉm sơn thanh hóa. Ai lấy tt ib có full”, hình ảnh C và Á đang ở trong khách sạn cho Lê Thị P A và 01 video có độ dài 01 phút 19 giây được cắt ra từ video C quay khi quan hệ tình dục với Ánh cho An Văn C với mục đích tạo áp lực để Ánh quay lại tiếp tục yêu C. Ngày 07/3/2024, khi được Lê Thị Phương A và An Văn C trao đổi những thông tin trên, Hồ Ngọc Á lo sợ nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B tố giác hành vi của Nguyễn Xuân C. Ngày 08/3/2024, Nguyễn Xuân C bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã B giữ trong trường hợp khẩn cấp. * Tang vật, tài sản thu giữ gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, số IMEI1: 862562055571679, số IMEI2: 862562055571661, bên trong có lắp sim số 0971.807.400 của Nguyễn Xuân Chưởng. Ngày 14/3/2024, Trung tâm pháp y tỉnh T giám định pháp y đối với trẻ em bị xâm hại tình dục kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y đối với trẻ em bị xâm hại tình dục đối với Hồ Ngọc Ánh: Màng trinh: Rách cũ vị trí 9 giờ, không xác định được thời gian rách.

Tại thời điểm giám định pháp y về tình dục: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác về thời gian rách màng trinh của Hồ Ngọc Á.

Ngày 14/3/2024, Trung tâm pháp y tỉnh T giám định nghi can xâm hại tình dục đối với Nguyễn Xuân C kết luận: Tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục .

* Về bồi thường dân sự: Đại diện gia đình Hồ Ngọc Á yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân C phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm theo quy định của pháp luật là 10 tháng lương cơ sở, đến trước khi xét xử vụ án bị cáo đã cùng với gia đình khắc phục hậu quả bồi thường cho cháu Hồ Ngọc Á số tiền là 3.000.000đ ( ba triệu đồng). Hồ Ngọc Á đã nhận số tiền và viết giấy xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Xuân C.

Các tình tiết khác của vụ án

* Khi thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Hồ Ngọc Á , C đã thực hiện hành vi quay video (02 lần: lần thứ nhất và lần thứ 5) làm kỷ niệm, Á đều biết và đồng ý. Sau đó, Chưởng đã cắt video có độ dài 01 phút 19 giây gửi cho An Văn C và chụp ảnh màn hình gửi cho P với mục đích níu kéo tình cảm không nhằm mục đích bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của Hồ Ngọc Á . Sự việc xảy ra ít người biết, những người biết đều đã được Ánh nói chuyện cho biết từ trước. Mặt khác, Á cảm thấy không bị xúc phạm, không bị bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của bản thân, sức khỏe và tâm lý của Ánh hoàn toàn bình thường không bị ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập. Hành vi nêu trên của C chưa gây ra hậu quả nên không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Xuân C về hành vi này.

* Về việc cháu Hồ Ngọc Á có thai: Kết quả siêu âm của Bệnh viện đa khoa thị xã Bỉm Sơn kết luận: buồng tử cung Hồ Ngọc Á có thai tương đương 06 tuần. Tuy nhiên, Á đã bỏ thai nên không có mẫu vật để trưng cầu giám định xác định thai nhi có quan hệ huyết thống với Nguyễn Xuân C không? Hồ sơ chỉ có lời khai của bị hại, bị cáo và kết quả siêu âm của Bệnh viện đa khoa thị xã B . Do đó, không đủ căn cứ xác định Nguyễn Xuân C giao cấu với cháu Hồ Ngọc Á làm cháu Á có thai.

* Xử lý tang vật, tài sản thu giữ

01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bên trong lắp sim số 0971.807.400, máy cũ, đã qua sử dụng. Tài sản trên là vật chứng có liên quan đến vụ án đã được chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSBS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Xuân C về tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 điều 145 của BLHS. Tại phiên toà đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng : điểm a khoản 2 điều 145 ; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 55; khoản 2 điều 56; điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 40 đến 42 tháng tù, tổng hợp hình phạt với bản án số 44 ngày 27/11/2023 Toà án nhân dân huyện T tỉnh P.

Về TNDS : Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 điều 48 BLHS; khoản 1 điều 584; khoản 1 điều 586; khoản 4 điều 589; điều 592 của BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại về khoản thiệt hại danh dự nhân phẩm với số tiền từ 8 đến 10 tháng lương cơ sở tương đương với số tiền 18.720.000đ đến 23.400.000đ, trừ đi số tiền bị cáo đã khắc phục hậu quả là 3.000.000đ, số tiền còn lại buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại là 15.720.000đ đến 20.400.000đ. Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS Đề nghị tịch thu 01 điện thoại di động động nhãn hiệu OPPO A15S, số IMEI1: 862562055571679, số IMEI2: 862562055571661, bên trong có lắp sim số 0971.807.400 của Nguyễn Xuân C. Tại phiên toà, bà Lê Thị P là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và đồng thời đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường về danh dự nhân phẩm cho người bị hại số tiền là 10 tháng lương cơ sở tương đương với số tiền là 23.400.000đ, trừ đi số tiền bị cáo đã khắc phục hậu quả 3.000.000đ, số tiền còn lại buộc bị cáo tiếp tục có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã B, tỉnh T, điều tra viên; VKSND thị xã B, tỉnh T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/8/2023 đến ngày 05/10/2023 Nguyễn Xuân C đã 05 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Hồ Ngọc Á sinh ngày 15/10/2007. Tại thời điểm C thực hiện hành vi giao cấu cháu Á đã trên 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy hành vi giao cấu 05 lần của bị cáo đối với cháu Hồ Ngọc Á đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2 điều 145 của BLHS.

Xét tính chất vụ án: vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý cũng như danh dự nhân phẩm của trẻ em, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư nên cần phải xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ : Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thật thà thành khẩn, ăn năn hối cải nên khi lượng hình được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của BLHS. Trước khi mở phiên toà, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên khi lượng hình được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự theo khoản 2 điều 51 BLHS.

Theo bản án số 44/2023 /HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh P bị cáo bị xét xử về tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là tội nghiêm trọng, do lỗi vô ý nên căn cứ khoản 2 điều 69 BLHS không bị coi là có án tích, nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng là “ tái phạm” theo điểm h khoản 1 điều 52 của BLHS. Xét thấy, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo khoản 2 điều 51 BLHS.

Về nhân thân bị cáo đã từng bị Toà án xét xử về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” bị cáo phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ nên căn cứ điều 55 và khoản 2 điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt đối với thời gian chưa chấp hành hình phạt của bản án số 44/2023 /HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ .

Bản án số 44/2023 /HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện T tỉnh P xét xử bị cáo 15 tháng cải tạo không giam giữ. Theo kết quả xác minh thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án Hình sự công an huyện Ý tỉnh N nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án là ngày 19/01/2024 tính đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ đến ngày 19/4/2025 tổng số là 455 ngày. Tính từ ngày bị cáo bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ ( 19/01/2023) đến ngày bị cáo bị tạm giữ trong vụ án này là 08/03/2024 là: 50 ngày. Như vậy, thời gian bị cáo chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữa của bản án số 44/2023 /HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện T tỉnh P là 455 ngày trừ đi 50 ngày đã chấp hành, còn lại 405 ngày bị cáo chưa chấp hành. Quy đổi ra 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tạm giữ, tạm giam nên thời gian còn lại bị cáo chưa chấp hành được quy đổi bằng 4 tháng 15 ngày tạm giam, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành. Xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm cải tạo giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại cháu Hồ Ngọc Á đề nghị Toà án giải quyết buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất về danh dự nhân phẩm là 10 tháng lương có sở. HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bình thường và danh dự nhân phẩm của người bị hại, nên chấp nhận yêu cầu của người bị hại . Áp dụng khoản 2 điều 48 BLHS; khoản 1 điều 584; khoản 1 điều 586 ; điều 592 của BLDS buộc bị cáo phải bồi thường một khoản tiền do thiệt hại về danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 10 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định, tương đương với số tiền: 2.340.000 đ x 10 tháng lương = 23.400.000đ được trừ đi số tiền bị cáo đã khắc phục hậu quả là 3.000.000đ ( ba triệu đồng), số tiền còn lại: 20.400.000đ, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại.

Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động co ghi chữ OPPO số IMEL1: n 862562055571679 ; số IMEL2 862562055571661 màu xanh đen là vật dụng bị cáo sử dụng để quay video hình ảnh bị cáo quan hệ tình dục với cháu Hồ Ngọc Á và chuyển cho một số người bạn nên có liên quan đến vụ án, HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại trên.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 điều 145 ; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 55; khoản 2 điều 56; điều 38 BLHS

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân C 38 ( ba mươi tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với hình phạt còn lại bị cáo chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của bản án số 44/2023 /HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện T tỉnh P được quy đổi bằng 4 tháng 15 ngày tạm giam.

Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của 2 bản án là: 42 tháng 15 ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ( 08/03/2024)

2.Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 2 điều 48 BLHS; khoản 1 điều 584; khoản 1 điều 586; điều 592 của BLDS buộc bị cáo phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho người bị hại là cháu Hồ Ngọc Á số tiền thiệt hại về danh dự nhân phẩm uy tín là: 20.400.000đ ( Hai mươi triệu, bốn trăm ngàn đồng)

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, gia đình cháu Hồ Ngọc Á có đơn đề nghị thi hành án, nếu bị cáo không bồi thường hoặc bồi thường không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả đối với số tiền còn phải thi hành án, mức lãi suất bằng ½ mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 BLDS.

3. Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tich thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động co ghi chữ OPPO số IMEL1: 862562055571679 ; số IMEL2 862562055571661 màu xanh đen màn hình bị vỡ , bên trong lắp sim máy cũ đã qua sử dụng. ( Tang vật được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 của chi cục thi hành án dân sự Bỉm Sơn)

4. về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Xuân C phải nộp 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí HSST và 1.020.000 đ ( một triệu không trăm hai mươi ngàn) án phí DSST.

Trường hợp b n án này được thi hành theo quy định tại Đi u

u t Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người ph i thi hành án dân sự có quy n thỏa thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các đi u 6,7,7a và 9 lu t Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Đi u 30 u t thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 31/7/2024), người bị hại cháu Hồ Ngọc Á, người đại diện theo pháp luật cho cháu ánh là chị Đỗ Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai bản án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Hồ Ngọc Á bà Lê Thị P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 31/7/2024)

Cỡ chữ