vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 08/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định khai thác tài nguyên”.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu sung quĩ nhà nước phương tiện thủy là tàu vỏ sắt, thân tàu có ghi dòng chữ NĐ 3070, trọng tải khoảng 200 m3 có gắn các thiết bị máy gồm 1 máy đẩy khoảng 108 HP, 2 máy hút… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên - phạm tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (điều 227 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định khai thác tài nguyên”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày 08-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Mai Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Quốc Khánh

Ông Lê Văn Thắng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Nhàn - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn T, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Nguyên quán: xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHK , nơi ở: Xóm 2, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 0/12; Con ông: Đoàn Văn C, sinh năm 1952 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; Gia đình có 05 chị em, bị can là thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982. Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Ngày 21/10/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 6 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”; Tiền sự: Ngày 13/01/2022, UBND huyện Xuân Trường xử phạt vi phạm hành chính 21.500.000đ về hành vi khai thác khoáng sản cát trái phép; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2023, đến ngày 24/11/2023 thì chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T, sinh năm 1984. Trú tại: Thôn Hội Kê, xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 1/6/2016, anh Trần Phú T, sinh năm: 1987 ở Xóm 9, xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường làm thủ tục đăng ký con tàu mang biển số NĐ 3070. Ngày 15/12/2020, anh Trần Phú T bán con tàu trên cho một người tên Trình ở tỉnh Bắc Giang (không rõ nhân thân lai lịch cụ thể) với giá 740.000.000 đồng. Sau đó, anh Trình bán lại con tàu trên cho anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1979 ở TDP Trần Phú, TT Cỗ Lễ, huyện Trực Ninh với giá 1.400.000.000 đồng. Khi anh N mua con tàu trên, đã lắp thêm hệ thống bơm hút cát gồm các máy phụ, tời, ống hút và mỏ neo. Ngày 12/8/2023, anh Nguyễn Thanh N đã bán lại con tàu trên cho anh Chu Minh C, sinh năm: 1988, HKTT: 4/48 Lê Quý Đôn, phường T, TP. Nam Định với giá 1.470.000.000 đồng. Việc mua bán có viết giấy mua bán chuyển nhượng, nhưng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Đến khoảng cuối tháng 10/2023, Chu Minh C thuê anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1983, trú tại: thôn H, xã Mn, huyện M, tỉnh Nam Định tìm thêm người để sử dụng con tàu NĐ-3070 đi khai thác cát trong mỏ cát Thăng Long sau đó mang đi bán cho bãi vật liệu của anh Trần Trọng Đ, sinh năm 1984 ở 48 Tô Hiệu, phường Ngô Quyền, TP. Nam Định tại thôn Lộ Xuyên 1, xã Phương Định, huyện Trực Ninh với tiền công là 1.300.000 đồng/chuyến khi bơm cát lên bãi vào ban ngày và 1.800.000 đồng/chuyến khi bơm cát lên bãi vào ban đêm; tiền công trả vào cuối tháng, ngoài ra C còn hỗ trợ thêm tiền ăn là 300.000 đồng/ngày. Về tiền xăng dầu, tiền sửa chữa, tiền khai thác cát tại mỏ và mọi chi phí khác thì do C chi trả và C là người trực tiếp liên hệ, làm các thủ tục để mua cát tại mỏ. Sau khi mua cát tại mỏ thì Tôn cầm “Phiếu giao hàng” của xí nghiệp khai thác cát Vân Long thuộc Công ty CP Đầu tư XNK Thăng Long về giao cho C và khi bán cát thì C sẽ đưa lại “Phiếu giao hàng” cho Đức. Sau đó, Tôn gọi thêm anh Trần Văn T sinh năm 1984 ở thôn Hội Kê, xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và anh Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) đi khai thác cát thuê cho anh C với thỏa thuận như trên. Sau đó, từ ngày 31/10/2023 đến ngày 03/11/2023, anh T, anh Thắng, anh Tuấn đã cùng nhau khai thác được 1 chuyến vào ngày 02/11/2023 tại mỏ “Thăng Long” với khối lượng 200 m3 và bán cho bãi của anh Trần Trọng Đ. Sau đó, anh T và anh Tuấn xin nghỉ nên anh C tiếp tục nhờ anh Thắng tìm thêm người để đi khai thác cát trong mỏ cát “Thăng Long”. Sau đó, Thắng không tìm được ai khác nên tiếp tục gọi Tôn xuống đi làm, và Tôn đã gọi thêm anh Đoàn Văn T sinh năm 1983 ở xóm 2, xã X, huyện X đi khai thác cát cùng. Từ ngày 06/11/2023 đến ngày 13/11/2023, Thắng cùng Tôn và T đã khai thác được 5 ngày, 6 chuyến với tổng khối lượng là 1.200 m3 tại mỏ “Thăng Long” và bán cho bãi của anh Trần Trọng Đ tại thôn Lộ Xuyên 1, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, khi bán cát cho anh Đ thì C đưa “Phiếu giao hàng” cho anh Đ. Từ ngày 02/11/2023 đến ngày 13/11/2023, C đã bán cho anh Đ tổng khối lượng cát là 1.400 m3 với số tiền là 140.000.000 đồng.

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 15/11/2023, Trần Văn T SN1984 trú tại thôn Hội Kê, xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình chỉ đạo Đoàn Văn T SN 1983 trú tại xóm 2, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định và Nguyễn Văn T SN 1983, trú tại thôn Hồng Hà 2, xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đi khai thác cát trái phép tại lòng sông Ninh Cơ. Thắng điều khiển tàu vỏ sắt NĐ 3070 đi cùng với T và Tôn di chuyển từ vị trí neo đậu tại bãi vật liệu xây dựng ở xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đi đến khu vực sông Ninh Cơ, thuộc khu vực xóm 17, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định thì dừng lại để khai thác cát trái phép.Thắng có nhiệm vụ điều khiển tàu, Tôn thả neo tàu và hạ ống hút cát xuống lòng sông; còn anh T buộc dây cố định ống, điều khiển máy để tiến hành hút cát lên hai khoang của tàu. Đến khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, khi Thắng, T, Tôn đang khai thác cát trái phép được 117 m³ cát, thì bị tổ công tác Công an huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, Thắng, T, Tôn không xuất trình được giấy tờ liên quan đến chứng chỉ chuyên môn điều khiển phương tiện và giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan có thẩm quyền cấp. Tổ công tác đã yêu cầu Thắng, T, Tôn đưa tàu NĐ-3070 di chuyển tàu neo đậu tại bến của Công ty CP Nguyễn Phúc, địa chỉ: xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường; thu giữ tang vật, phương tiện phạm tội và thu giữ của Đoàn Văn T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen đều đã cũ; thu giữ của Trần Văn T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ.

Ngày 22/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường đã chuyển toàn bộ hồ sơ, phương tiện, tang vật vi phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam Định để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam Định, Đoàn Văn T, Nguyễn Văn T, Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như đã nêu trên. Ngoài ra, T, Tôn, Thắng khai nhận Chu Minh C không thuê hay chỉ đạo gì việc khai thác cát trái phép tại lòng sông Ninh Cơ vào ngày 15/11/2023, việc khai thác cát trái phép vào ngày 15/11/2023 là do Trần Văn T chỉ đạo. Theo Kết quả đo số382/N/ 112023 ngày 18/11/2023 của Trung tâm ứng dụng khoa học và công nghệ tỉnh Nam Định xác định thể tích cát trong tàu là 117 m3.

Ngày 24/11/2023, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Nam Định đã có công văn số 4583/STNMT-ĐĐĐK&KTĐ xác định: Vị trí phương tiện có tọa độ (X=2246545.2616; Y= 584619.3859) hệ tọa độ VN2000, kinh tuyến trục 105o30’, múi chiếu 3o thuộc địa giới hành chính huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, vị trí này không được cơ quan quản lý nhà nước cấp phép khai thác cát.

Ngày 17/11/2024, Cơ quan CSĐT công an tỉnh Nam Định đã ra Quyết định trưng cầu giám định số124 giám định chủng loại, thành phần khoáng vật gửi công ty cổ phần giám định thương mại Bảo Linh. Ngày 18/11/2023, Công ty cổ phần giám định thương mại Bảo Linh có Chứng thư giám định chất lượng số 382/N/112023 nội dung: chủng loại hàng hóa trên tàu của Đoàn Văn T là khoáng sản cát, loại cát hạt mịn, có lẫn nhiều tạp chất dùng cho san lấp (cát đen). Tại Kết luận định giá số 58 ngày 25/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Nam Định kết luận: Đơn giá cát đen tại thời điểm ngày 15/11/2023 là 65.000 đồng/m3.

Vật chứng vụ án thu giữ chuyển Cục Thi hành án Dân sự tỉnh: Thu giữ của Đoàn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, nắp lưng màu ghi, IMEI: 355481/05/133924/3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Redmi” màu đen, model: M2006C3MG; Thu giữ Trần Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, IMEI: 353408/04/745270/9; Phương tiện thủy là tàu vỏ sắt, thân tàu có ghi dòng chữ NĐ 3070, trọng tải khoảng 200 m3 có gắn các thiết bị máy gồm 1 máy đẩy khoảng 108 HP, 2 máy hút, 1 máy tời ống, 1 máy tời neo, 1 máy bơm cát lên bờ và 02 ống hút, trên tàu có 1.163 lít dầu Diesel. Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam Định gửi tại bãi đóng tàu của Công ty Nguyễn Phúc, địa chỉ tại phố Bùi Chu, xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định để quản lý, bảo quản, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử.

Về việc xử lý vật chứng: Ngày 02/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam Định đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 37/QĐ-PC01 xử lý vật chứng là 117m3 cát đen bằng hình thức trả toàn bộ khối lượng cát trên xuống lòng sông Ninh Cơ tại khu vực thuộc địa phận xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, đưa khu vực khai thác về trạng thái an toàn; Đối với 941 m3 khoáng sản cát đen đã thu giữ tại bãi vật liệu thuộc thôn Lộ Xuyên 1, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Quá trình điều tra xác định nguồn gốc cát được mua tại mỏ cát thuộc công ty Cổ phần đầu tư Xuất nhập khẩu Thăng Long được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động. Ngày 31/12/023, cơ quan CSĐT (PC01) – Công an tỉnh Nam Định đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Trọng Đ, SN 1984, trú tại: 48 Tô Hiệu, phường Ngô Quyền, Tp Nam Định.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 26/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đoàn Văn T về tội: “ Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”; Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Đoàn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Tịch thu sung quĩ nhà nước 01 phương tiện thủy là tàu vỏ sắt, thân tàu có ghi dòng chữ NĐ 3070, trọng tải khoảng 200 m3 có gắn các thiết bị máy gồm 1 máy đẩy khoảng 108 HP, 2 máy hút, 1 máy tời ống, 1 máy tời neo, 1 máy bơm cát lên bờ và 02 ống hút, trên tàu có 1.163 lít dầu Diesel; Trả lại cho Đoàn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, nắp lưng màu ghi, IMEI: 355481/05/133924/3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Redmi” màu đen, model: M2006C3MG; Trả lại cho anh Trần Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, IMEI: 353408/04/745270.

Bị cáo nói lời sau cùng : Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Khoảng 00h 30 phút ngày 15/11/2023, Đoàn Văn T cùng với Trần Văn T, Nguyễn Văn T đã sử dụng tàu vỏ sắt, thân tàu có ghi dòng chữ NĐ 3070, trọng tải khoảng 200 m3 có gắn các thiết bị máy gồm 1 máy đẩy khoảng 108 HP, 2 máy hút, 1 máy tời ống, 1 máy tời neo, 1 máy bơm cát lên bờ và 02 ống hút để khai thác 117 m3 cát đen trái phép trị giá 7.605.000đ tại lòng sông Ninh Cơ thuộc địa phận xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường phát hiện bắt quả tang. Ngày 21/10/2022, Đoàn Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 6 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Như vậy, hành vi của bị cáo Đoàn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tự nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm thu lợi bất chính.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Đoàn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. HĐXX, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX, quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm trừng trị và giáo dục để bị cáo trở thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Phương tiện thủy là tàu vỏ sắt, thân tàu có ghi dòng chữ NĐ 3070, trọng tải khoảng 200 m3 có gắn các thiết bị máy gồm 1 máy đẩy khoảng 108 HP, 2 máy hút, 1 máy tời ống, 1 máy tời neo, 1 máy bơm cát lên bờ và 02 ống hút, trên tàu có 1.163 lít dầu Diesel. Đây là vật chứng của vụ án liên quan đến phạm tội nên tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước.

Thu giữ của Đoàn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, nắp lưng màu ghi, IMEI: 355481/05/133924/3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Redmi” màu đen, model: M2006C3MG; Thu giữ của Trần Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, IMEI: 353408/04/745270/9; Những điện thoại thu giữ không liên quan đến phạm tội nên trả lại cho bị cáo và anh Thắng.

[7] Những vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với Trần Văn T, Nguyễn Văn T đã cùng với Đoàn Văn T khai thác trái phép khoáng sản cát. Tuy nhiên, Thắng, Tôn chưa bị xử lý hành chính hay bị kết án về hành vi vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; giá trị khoáng sản cát mà Thắng, Tôn khai thác được có giá trị là 7.605.000 đồng. Do vậy, hành vi của Trần Văn T, Nguyễn Văn T không cấu thành tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” quy định tại Điều 227 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chu Minh C có hành vi “Giao phương tiện cho người không có bằng hoặc giấy chứng nhận khả năng chuyên môn điều khiển phương tiện theo quy định”, Tuy nhiên C chưa bị xử lý hành chính hay bị kết án về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy, hành vi của C cũng chưa gây thiệt hại về người và tài sản. Do vậy, hành vi của Chu Minh C không cấu thành tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường Thủy” quy định tại điều 276 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Trần Văn T, Nguyễn Văn T và Chu Minh C là hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam Định đã chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan đến Công an huyện Xuân Trường xử lý theo quy định.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Văn T phải chịu theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định khai thác tài nguyên”.

2. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Đoàn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung quĩ nhà nước phương tiện thủy là tàu vỏ sắt, thân tàu có ghi dòng chữ NĐ 3070, trọng tải khoảng 200 m3 có gắn các thiết bị máy gồm 1 máy đẩy khoảng 108 HP, 2 máy hút, 1 máy tời ống, 1 máy tời neo, 1 máy bơm cát lên bờ và 02 ống hút, trên tàu có 1.163 lít dầu Diesel; Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Nam Định gửi tại bãi đóng tàu của Công ty Nguyễn Phúc. Địa chỉ: phố Bùi Chu, xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Trả lại cho Đoàn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, nắp lưng màu ghi, IMEI: 355481/05/133924/3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Redmi” màu đen, model: M2006C3MG nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Trả lại cho Trần Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Nokia” màu xanh, IMEI: 353408/04/745270/9.

Biên bản giao nhận vật chứng số 50A/24 ngày 07 tháng 02 năm 2024 giữa Phòng PC 01 - Công an tỉnh Nam Định và Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Đoàn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ