- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn G - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Võ Văn G 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 23/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Phương Thúy;
2. Nguyễn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2023/HSST ngày 28/06/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/HSST-QĐ ngày 05/12/2023 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn G, tên gọi khác: L, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 239/63/73 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; con ông Võ Văn M và bà Nguyễn Thị H; bị cáo không có vợ con; tiền án, tiền sự: không, nhân thân: Bản án số 113/2011/HSST ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 01 năm tù về Tội cướp giật tài sản; Ngày 18 tháng 01 năm 2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C áp dụng biện pháp giáo dục tại cộng đồng với thời hạn 06 tháng; Quyết định số 66/QĐ-XLVPHC ngày 29/5/2018 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2023 - Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: 413/41/4/3 L, Khu phố E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Phạm Hùng P, sinh năm 1966; địa chỉ: A B, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
- Ông Lê Muôn T, sinh năm 1961; địa chỉ: H B, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Văn G và ông Nguyễn Văn H1 là hàng xóm với nhau từ năm 2019. Khoảng 14 giờ 30 ngày 19/03/2021, ông Nguyễn Văn H1 đang ngồi tại bãi đất trống hẻm A B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo Võ Văn G đi bộ đến cạnh ông H1 để đi vệ sinh nên dẫn đến cả hai cãi nhau. Bị cáo G chạy vào nhà cầm 01 con dao chặt thịt bằng kim loại dài 42cm, rộng 7,5cm và 01 thanh kim loại dài 90cm, rộng 4cm, dày 2,2cm xông ra đuổi đánh ông H1. Ông H1 dùng tay phải cầm 01 cục gạch lên ném bị cáo G nhưng không trúng. Bị cáo G cầm hung khí xông tới đánh thì ông H1 bỏ chạy. Ông H1 chạy được vài mét thì bị G ném thanh kim loại trúng vào chân làm ông H1 té ngã xuống đất. Lúc này bị cáo chạy tới ngồi xuống và dùng tay đè lên người ông H1. H1 dùng tay đánh vào mặt bị cáo, bị cáo dùng tay phải cầm con dao quơ theo hướng từ dưới lên trên trúng vào lòng bàn tay trái của H1, sau đó H1 la lên bỏ chạy, bị cáo đứng thấy H1 bỏ chạy và thấy chú tổ trưởng ra nên bỏ đi. Sau đó, ông P và người dân đưa ông H1 đi bệnh viện A2 cấp cứu. Sau khi gây án, bị cáo Võ Văn G chạy về nhà cất giấu hung khí trong nhà vệ sinh rồi bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 26/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã bắt được bị cáo Võ Văn G theo Quyết định truy nã số: 04/QĐTN-CSĐT-ĐTTH ngày 03/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Võ Văn G đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 440/TgT.21 ngày 21/5/2021 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố H, kết luận về thương tích của Nguyễn Văn H1:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương vùng bàn tay trái gây đứt da, đứt gân gấp nông sâu ngón 2 đến 5, gân gấp ngón cái dài, đứt thần kinh giữa, đứt mất đoạn bó mạch thần kinh trụ, trật khớp cổ tay, gãy xương vùng cổ tay và xương bàn ngón 1 đã được điều trị mổ kết hợp xương kèm nắn trật, khâu gân, thần kinh giữa, cột bó mạch thần kinh trụ, hiện còn:
+ Một sẹo chém kích thước 12,7x(0,1-0,2)cm
+ Một sẹo mổ dọc kích thước 3,8x(0,1-0,2)cm
+ Hai lỗ xuyên đinh kích thước 0,2x0,2cm mỗi lỗ
+ Hình ảnh kết hợp xương trên phim Xquang
+ Tổn thương thần kinh trụ và giữa trên địa cơ đồ
+ Tắc động mạch trụ trên siêu âm doppler mạch máu
+ Hạn chế vận động bàn cổ tay
2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 38% (Ba mươi tám phần trăm).
3. Kết luận khác:
-Vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 42cm, rộng 7,5cm; lưỡi dao dài 27,5cm, rộng 7,5cm đã qua sử dụng;
- 01 (một) thanh kim loại dài 90cm, rộng 4cm, dày 2,2cm;
- 01 (một) đôi dép hiệu VAPOKAAK, màu tro đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số: 115/CT-VKSQ7 ngày 27/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo theo điểm a, i Khoản 1 và điểm c Khoản 3 Điều 134 về tội “Cố ý gây thương tích” của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a, i khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 đã truy tố, không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023 Tòa án nhân dân Quận 7 đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 để điểu tra xem xét hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự. Sau khi tiến hành thực nghiệm điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại đều thống nhất xác định hành vi của bị cáo như sau: Do mâu thuẫn trong sinh hoạt (Võ Văn G đi tiểu vào bãi đất trống cạnh nhà ông Nguyễn Văn H1) cả hai đã ra mâu thuẫn và cãi vả nhau. G chạy vào nhà trọ của mình lây con dao làm bếp và một cây sắt ở cửa cổng chạy ra tiếp tục cãi nhau với H1, lúc này H1 cầm cục gạch chọi vào G nhưng không trúng thì G cầm hung khí đuổi đánh H1. G cầm tay trái ném cây sắt đang cầm trên tay về phía H1 làm hung bi té ngã, lúc này G chạy tới ngồi xuống và dùng tay đè vào người Hùng. H1 dùng tay đánh vào mặt G, thì G dùng tay phải cầm con dao quơ theo hướng từ dưới lên trên trúng vào lòng bàn tay trái của H1. Sau đó H1 la lên bỏ chạy, G thấy H1 bỏ chạy và thấy chú tổ trưởng ra nên bỏ đi về.
Xét thấy, bị cáo và bị hại do có mâu thuẫn trong sinh hoạt nên cả hai cãi vả lẫn nhau. Bị hại sử dụng cục gạch để chọi bị cáo trước, khi bị cáo đè lên bị hại thì bị hại dùng tay đánh vào mặt bị cáo, sau đó bị cáo sử dụng con dao (con dao này bị cáo không chuẩn bị từ trước, mà trong lúc cãi nhau cả hai cùng chạy đi tìm hung khí) quơ theo hướng từ dưới lên trên trúng vào lòng bàn tay trái của bị hại. Hành vi của bị cáo mang tính tức thời, không chủ mưu dự liệu từ trước, bị cáo cũng chỉ chém bị hại 01 nhát trúng vào tay của bị hại sao đó tự mình dừng lại hành vi chém bị hại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai không có động cơ, mục đích tước đi tính mạng của bị hại.
Căn cứ Bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số 440/TgT.21 ngày 21/5/2021 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố H kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, xét đủ cơ sở để kết luận: chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, bị cáo Võ Văn Giàu c hành vi dùng hung khí nguy hiểm là dao gây thương tích cho bị hại ông Nguyễn Văn H1. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định của ông Nguyễn Văn H1 là: 38%.
Bị cáo Võ Văn G là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là cố ý, thể hiện tính chất côn đồ, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng vì không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của công dân mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội. Vì vậy, cần xét xử bằng mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Do vậy, có căn cứ để xác định hành vi bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, i Khoản 1 và điểm c Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo nhân thân xấu: Bản án số 113/2011/HSST ngày 30/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 01 năm tù về Tội cướp giật tài sản; Ngày 18 tháng 01 năm 2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C áp dụng biện pháp giáo dục tại cộng đồng với thời hạn 06 tháng; Quyết định số 66/QĐ-XLVPHC ngày 29/5/2018 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại ông Nguyễn Văn H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho ông Nguyễn Văn H1. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 42cm, rộng 7,5cm; lưỡi dao dài 27,5cm, rộng 7,5cm đã qua sử dụng. Đây là hung khí bị cáo G đã dùng để chém bị hại Nguyễn Văn H1, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) thanh kim loại dài 90cm, rộng 4cm, dày 2,2cm. Đây là hung khí bị cáo G đã dùng để đuổi đánh bị hại Nguyễn Văn H1, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) đôi dép hiệu VAPOKAAK, màu tro đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, i khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn G 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023
2. Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 589 Bộ luật dân sự 2015: Buộc bị cáo Võ Văn G phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại dài 42cm, rộng 7,5cm; lưỡi dao dài 27,5cm, rộng 7,5cm (đã qua sử dụng); 01 (một) thanh kim loại dài 90cm, rộng 4cm, dày 2,2cm; 01 (một) đôi dép hiệu VAPOKAAK, màu tro (đã qua sử dụng).
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 101 ngày 12 tháng 6 năm 2023)
4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự 850.000 (T1 trăm năm mươi nghìn) đồng.
5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Q.7; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu: sổ án, VT, HS (Tk. Vân Anh) ). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Đào Lê Anh |