- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------- Bản án số 25/2024/HS-ST Ngày: 08/3/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Thái Ánh Trinh
2/ Ông Tăng Tài Thủ
- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 02/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trà Văn T - sinh năm: 1992.
Đăng ký thường trú: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Trà Văn H, sinh năm: 1970; Họ và tên mẹ: Trần Thị Đ, sinh năm: 1970; Anh ruột có 02 người, lớn - sinh năm: 1986, nhỏ - sinh năm: 1990; Vợ: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm: 1989 (chưa đăng ký kết hôn); Con: Có 03 người, lớn - sinh năm: 2016, nhỏ - sinh năm: 2021.
Tiền án: 01 lần. Ngày 21/02/2022, bị Toà án nhân dân quận Thốt Nốt xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HSST, chấp hình xong hình phạt tù ngày 02/3/2023.
Tiền sự: 01 lần. Ngày 08/6/2023, bị Trưởng Công an phường T, quận T xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 0025332/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa nộp phạt.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T từ ngày 12/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-Người bị hại:
1/ Ông Nguyễn Văn Anh K – sinh ngày: 17/11/2006 ( Vắng mặt)
Đại diện gia đình bị hại ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm: 1975 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: KV T, P. T, Q. T, Tp ..
2/ Ông Nguyễn Tấn K1 – sinh ngày: 07/6/2006 (Vắng mặt)
Đại diện gia đình bị hại ông Nguyễn Văn T1,sinh năm1976 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: KV T, P. T, Q. T, Tp ..
3/ Ông Nguyễn Huỳnh Đ1 – sinh ngày: 01/01/2006 ( Có mặt)
Đại diện gia đình bị hại bà Huỳnh Thị Kim S - SN: 1987 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: KV T, P. T, Q. T, Tp ..
4/Ông Nguyễn Tấn D – sinh ngày: 15/01/2007 (Có mặt)
Đại diện gia đình bị hại ông Nguyễn Hữu Đ2 - SN: 1983 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: KV T, P. T, Q. T, Tp ..
- Người làm chứng:
1/ Ông Thái Văn D1 – sinh năm: 1989 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: KV L, phường T, quận T, Cần Thơ
2/ Bà Nguyễn Thị N1 – sinh năm: 1993 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, Tp .
3/ Bà Lê Nguyễn Ngọc N2 – sinh năm: 2004 ( Có mặt)
Địa chỉ: KV T, phường T, quận Ô, Tp .
4/ Ông Tống Quốc T2 – sinh năm: 2002 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: KV T, phường T, quận T, Tp .
5/ Ông Hồ Minh S1 – sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: KV T, phường T, quận T, Cần Thơ
6/ Bà Nguyễn Thị Mỹ N3 – sinh năm: 2006 ( Vắng mặt)
Người giám hộ có bà Nguyễn Thị D2 – sinh năm: 1970 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Tp .
7/ Ông Nguyễn Văn N4 – sinh năm: 19/4/2006 ( Vắng mặt)
Người giám hộ có ông Nguyễn Vô T3 – sinh năm: 1978 ( Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: KV T, P. T, quận T, Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ ngày 09/8/2023, Hồ Minh S1 là chủ quán K4 tại khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nhậu với Nguyễn Văn Anh K, Nguyễn Tấn K1, Nguyễn Tấn D, Nguyễn Huỳnh Đ1, Nguyễn Văn N4 và một số người khác tại quán. Lúc này, Trà Văn T cùng nhóm bạn gồm Thái Văn D1, Nguyễn Thị N3, Lê Nguyễn Ngọc N2, Tống Quốc T2, Lê Vĩ K2, Nguyễn Hoàng K3 đến quán K4 để thuê phòng hát karaoke nên được Hồ Minh S1 bố trí vào phòng vip 2 và điều tiếp viên tên Đặng Yến N5 vào phục vụ theo yêu cầu của nhóm T. Khoảng 03 phút sau khi vô phòng vip 2, N5 quay trở ra nói với S1 về việc bị Thái Văn D1 đánh. Liền lúc này, Thái Văn D1 từ trong phòng karaoke bước ra ngoài gặp S1 để nói chuyện thì xảy ra cự cãi. Thấy vậy, Trà Văn T lấy một con dao bấm trong túi quần rượt đuổi những người của quán bỏ chạy, rồi T cất dao vào trong túi quần và cùng nhóm bạn ra lấy xe đi về. Tại bãi xe, giữa T và Nguyễn Tấn K1 xảy ra cự cãi; trong lúc cự cãi T lấy con dao từ trong túi quần cầm trên tay trái, khi Tấn K1 cầm nón bảo hiểm xông vào đánh T, T cầm dao đâm vào mông của Tấn K1; do thấy Tấn K1 và T đang đánh nhau nên Nguyễn Văn Anh K cùng với Nguyễn Huỳnh Đ1, Nguyễn Tấn D cũng xông vào dùng tay đánh T và Thái Văn D1 thì bị T dùng dao đâm vào người của Anh K, Huỳnh Đ1 và Tấn D gây thương tích nên Nguyễn Tấn K1, Nguyễn Văn Anh K, Nguyễn Huỳnh Đ1 và Nguyễn Tấn D bỏ chạy vào phía bên trong quán, T cầm dao đuổi theo nhưng do Nguyễn Văn N4, Nguyễn Thị Mỹ N3 dùng ly uống bia chọi về phía T để ngăn cản nên T cùng nhóm bạn lấy xe bỏ về; còn Tấn K1, Anh K, Huỳnh Đ1 và Tấn D được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ3. Sau khi sự việc xảy ra, Trà Văn T cùng Thái Văn D1, Nguyễn Thị N3, Lê Nguyễn Ngọc N2 bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 12/8/2023, Trà Văn T bị cơ quan Công an bắt giữ.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 504/KLTTCT-TTPYCT ngày 16/8/2023 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn K1 tại thời điểm giám định là 02%, cơ chế hình thành vết thương do vật sắt nhọn gây ra.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 556/KLTTCT-TTPYCT ngày 12/9/2023 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Anh K tại thời điểm giám định là 06%, cơ chế hình thành vết thương do vật sắt nhọn gây ra.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 557/KLTTCT-TTPYCT ngày 12/9/2023 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Huỳnh Đ1 tại thời điểm giám định là 38%, cơ chế hình thành vết thương do vật sắt nhọn gây ra.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 555/KLTTCT-TTPYCT ngày 12/9/2023 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn D tại thời điểm giám định là 39%, cơ chế hình thành vết thương do vật sắt nhọn gây ra.
Quá trình điều tra, Trà Văn T đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập.
Về tang vật: Trà Văn T đã ném bỏ trên đường bỏ trốn nên không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Tấn K1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị với số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Văn Anh K yêu cầu số tiền 10.000.000 đồng, Nguyễn Tấn D yêu cầu số tiền 15.000.000 đồng, Nguyễn Huỳnh Đ1 yêu cầu số tiền 30.000.000 đồng. Trà Văn T đồng ý mức yêu cầu của các bị hại nhưng hiện tại chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Trà Văn Tình về tội “ Cố ý gây thương tích ” theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt đã truy tố, không có ý kiến gì khác. Bị cáo đồng ý bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại Tấn Kiệt số tiền 1.500.000đồng, bị hại Tấn D số tiền 15.000.000 đồng, bị hại Huỳnh Đ1 số tiền 30.000.000 đồng khấu trừ số tiền bị cáo đã tạm nộp khắc phục hậu số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo có trách nhiệm tiếp tục trả số tiền còn lại cho các bị hại. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi đã phạm do thiếu suy nghĩ nhất thời đã gây thương tích cho các bị hại, nay bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tựu gia đình, chăm sóc con nhỏ và làm kiếm tiền bồi thường cho người bị hại.
Người bị hại Nguyễn Huỳnh Đ1, Nguyễn Tấn D và người đại diện gia đình bị hại vẫn giử nguyên ý kiến và yêu cầu như trong quá trình điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người đại diện gia đình bị hại Nguyễn Văn Anh K có ông Nguyễn Văn H1 rút yêu cầu buộc bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe số tiền 10.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Riêng đối với bị hại Tấn K1 và người đại diện gia đình bị hại vắng mặt, không rõ lý do.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và trên cơ sở đó đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Trà Văn T phạm tội “ Cố ý gây thương tích ”.
[1] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào Điều 38, điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trà Văn T từ 10 ( Mười) năm đến 11 (Mười một) năm tù.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
- Công nhận bị cáo và bị hại đã thỏa thuận: Bị cáo có trách nhiệm bồi hoàn chi phí điều trị thương tích cho bị hại Nguyễn Tấn K1 số tiền 1.500.000đồng, bị hại Nguyễn Tấn D yêu cầu số tiền 15.000.000 đồng, bị hại Nguyễn Huỳnh Đ1 số tiền 30.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Văn Anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm là phù hợp.
[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Tấn K1 và đại diện gia đình bị hại K1 vắng mặt và một số người làm chứng vắng mặt. Xét trong điều tra đã thu thập được lời khai những người này, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292,293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]Về hành vi và chứng cứ xác định phạm tội: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, các biên bản ghi lời khai người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định...
Như vậy, có cơ sở xác định: Vào khoảng 02 giờ ngày 09/8/2023, bị cáo Trà Văn T cùng nhóm bạn đến quán K4 để hát Karaoke và xảy ra mâu thuẫn với chủ quán Hồ Minh S1 và các bị hại Nguyễn Văn Anh K, Nguyễn Tấn K1, Nguyễn Tấn D, Nguyễn Huỳnh Đ1, Nguyễn Văn N4 và một số người khác tại quán. Lo sợ bị đánh bị cáo Trà Văn T lấy một con dao bấm trong túi quần rượt đuổi những người của quán bỏ chạy, rồi bị cáo cất dao vào trong túi quần và cùng nhóm bạn ra lấy xe đi về. Tại nơi giữ xe của quán thì giữa bị cáo T và bị hại Nguyễn Tấn K1 xảy ra cự cãi, trong lúc cự cãi bị cáo lấy con dao từ trong túi quần cầm trên tay trái khi bị Tấn K1 cầm nón bảo hiểm xông vào đánh thì bị cáo cầm dao đâm vào mông của Tấn K1, thấy Tấn K1 và bị cáo T đang đánh nhau nên các bị hại Nguyễn Văn Anh K, Nguyễn Huỳnh Đ1, Nguyễn Tấn D cũng xông vào dùng tay đánh bị cáo thì bị cáo T dùng dao đâm vào người của Anh K, Huỳnh Đ1 và Tấn D gây thương tích nên các bị hại bỏ chạy vào phía bên trong quán, bị cáo T cầm dao đuổi theo nhưng do bị ngăn cản nên bị cáo T cùng nhóm bạn lấy xe bỏ về; còn các bị hại được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo T bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 12/8/2023, bị cơ quan Công an bắt giữ. Căn cứ các bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn K1 tại thời điểm giám định là 02%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Anh K tại thời điểm giám định là 06%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Huỳnh Đ1 tại thời điểm giám định là 38%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn D tại thời điểm giám định là 39%, cơ chế hình thành vết thương của các bị hại do vật sắt nhọn gây ra. Vì vậy, hành vi mà bị cáo T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội“ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Sức khỏe, tính mạng con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều phải được xử lý theo quy định pháp luật. Tội phạm mà bị cáo gây ra không chỉ xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để điều chỉnh hành vi của mình và biết rõ hành vi dùng dao sắc nhọ gây thương tích cho các bị hại nhưng chỉ vì xuất phát mâu thuẫn nhỏ trong quá trình giao tiếp, lẽ ra trong sự việc này bị cáo phải giữ sự bình tĩnh xử lý thì sự việc có thể được giải quyết ổn thỏa nhưng bị cáo dùng dao sắc nhọn gây thương tích cho nhiều người, thể hiện bản tính côn đồ, say bạo lực và xem thường pháp luật của nhà nước, tính mạng của người khác và sau khi gây thương tích bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho quá trình điều tra. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh tương xứng hành vi của bị cáo để giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4.1] Về các tình tiết tăng nặng: Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án xử phạt về “ Tội giết người ” và bản thân hiện có 01 tiền án về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích và 01 tiền sự về việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong thời gian bị cáo chấp hành án đã được các cơ quan chức năng giáo dục cải tạo thời gian dài nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, phấn đấu sống tốt làm công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp, từ đó cho thấy, ý thức tự sửa chữa của bị cáo là rất kém. Do đó, bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu và các bị hại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và các bị hại thống nhất thỏa thuận: Bị cáo đồng ý bồi chi phí điều trị thương tích cho bị hại Tấn Kiệt số tiền 1.500.000đồng, bị hại Tấn D số tiền 15.000.000 đồng, bị hại Huỳnh Đ1 số tiền 30.000.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền bị cáo tạm nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002114, ngày 01/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, bị cáo còn phải tiếp tục thanh toán cho ông Tấn K1 số tiền 1.000.000đồng, ông D số tiền 12.750.000đồng, ông Đ1 số tiền 27.750.000đồng. Về thời gian và phương thức thanh toán sẽ giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự theo thẩm quyền. Riêng đối với bị hại Nguyễn Văn Anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại không trái pháp pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[7] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Trà Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
[1] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào Điều 38, điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, điểm h khoản 1 khoản Điều 52, điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trà Văn T 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/8/2023.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
- Công nhận bị cáo Trà Văn T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Tấn K1 số tiền 1.500.000đồng, bị hại Nguyễn Tấn D yêu cầu số tiền 15.000.000 đồng, bị hại Nguyễn Huỳnh Đ1 số tiền 30.000.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 5.000.000đồng, bị cáo tạm nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002114, ngày 01/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt ( Trong đó: Ông Nguyễn Tấn K1 được nhận số tiền 500.000 đồng; ông Nguyễn Tấn D, ông Nguyễn Huỳnh Đ1 mỗi người nhận số tiền 2.250.000đồng). Bị cáo T phải tiếp tục thanh toán cho ông Tấn K1 số tiền 1.000.000đồng, ông D số tiền 12.750.000đồng, ông Đ1 số tiền 27.750.000đồng. Về thời gian và phương thức thanh toán sẽ giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự theo thẩm quyền.
- Công nhận bị hại Nguyễn Văn Anh K không yêu cầu bị cáo Trà Văn T bồi thường thiệt hại sức khỏe.
Kể từ khi các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm trả số tiền nêu trên thì bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trà Văn T phải nộp số tiền 200.000đồng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định.
[5] Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,7 b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Cần Thơ;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Cần Thơ;
- VKSND quận Thốt Nốt;
- Công an quận Thốt Nốt;
- Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
- Bị cáo;
Võ Bá Lộc
- Người bị hại
- Lưu hồ sơ.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Tăng Tài Thủ
Thái Ánh Trinh
Võ Bá Lộc
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Công an quận Thốt Nốt; - Cơ quan THA quận Thốt Nốt; - Bị cáo; - Người bị hại - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Lộc |