- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Q - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HS- ST Ngày: 01 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hải
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngµy 07 th¸ng 02 n¨m 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Văn Q, sinh năm 1996; tên gọi khác: không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu 5, thị trấn Kẻ S, huyện Bình G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiêp: lao động tự do; trình độ học vấn: không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn S (đã chết) và bà Trần Thị T; có vợ là Đỗ Thị Khánh Hvà 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 28/2/2018, Đào Văn Q bị Công an tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, Quang nộp phạt xong ngày 07/3/2018;
- Ngày 28/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Đào Văn Q 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/10/2023, chuyển tạm giam ngày 18/10/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương trong vụ án khác.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 và chị Tô Thị Bích T, sinh năm 1986
Địa chỉ: thôn Thị T, xã Quang P, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương.
- Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1983
2. Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1985
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo Quang. Vắng mặt bị hại là anh Tuế, chị Tình và người làm chứng là anh Luyện, chị Phước)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, Đào Văn Q đến đường Đinh Văn Tả, thành phố Hải Dương gặp 1 người bạn tên là Hùng. Trong lúc nói chuyện, Hùng bảo Quang "Mày không có xe thì để anh thiết kế cho mày chiếc xe". Quang nói "Em không có tiền", Hùng tiếp tục bảo "không có tiền thì ít hay nhiều cũng được". Lúc này, Quang đưa cho Hùng 1.000.000 đồng, mục đích để Hùng thiết kế xe máy cho Quang. Sau đó, Quang đi về nhà. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Hùng gọi điện thoại cho Quang bảo "Bây giờ anh em mình đi thiết kế xe", Quang đồng ý rồi bắt taxi đến đường Đinh Văn Tả, thành phố Hải Dương gặp Hùng như đã hẹn. Khi gặp Hùng, Quang thấy Hùng đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu ghi, trên tay trái Hùng cầm 1 chiếc kìm cộng lực (loại kìm cắt kim loại). Hùng bảo Quang ngồi lên xe máy để Hùng chở. Hùng chở Quang đi dọc đường 391 đến thôn Thị Tứ xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ. Lúc này, cả hai nhìn thấy trong lán trước cửa nhà chị Nguyễn Thị P có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, đeo biển số 34B3-742.73 của vợ chồng chị Tô Thị Bích T. Thấy vậy, Hùng dừng xe, đưa kìm cắt kim loại cho Quang và bảo Quang cắt móc khóa để trộm cắp chiếc xe máy trong lán. Quang cầm kìm đi đến sát cửa lán thì thấy cửa lán được khóa bằng khóa móc loại khóa Việt Tiệp. Quang dùng kìm cắt vào tai móc khóa cửa ở cột cổng làm tai móc bị đứt ra. Sau đó, Quang dùng tay đẩy sê cửa lán sang bên trái, đi vào trong lán, dong lùi chiếc xe máy ra chỗ Hùng đang đứng cảnh giới. Quang thấy Hùng dùng vam phá khóa để mở khóa. Sau đó, Hùng đưa xe vừa trộm cắp được cho Quang đi về còn Hùng đi xe Sirius. Về đến đường Đinh Văn Tả, Quang đưa xe trộm cắp cho Hùng còn Quang bắt taxi về nhà. Đến 7 giờ ngày 16/10/2023, Hùng gọi điện thoại cho Quang đến đường Đinh Văn Tả để lấy xe, Quang đồng ý. Đến nơi, Hùng giao cho Quang chiếc xe mà Quang, Hùng đã trộm cắp, tuy nhiên chiếc xe đã đeo biển số mới 38E1-007.89. Sau khi nhận xe, Quang điều khiển xe máy sang huyện Nam Sách tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn Nam Sách huyện Nam Sách bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc với Công an huyện Nam Sách, Quang trình bày về hành vi trộm cắp xe máy tại huyện Tứ Kỳ ngày 15/10/2023. Đến ngày 09/11/2023, Công an huyện Nam Sách chuyển nguồn tin Trộm cắp tài sản cho Công an huyện Tứ Kỳ giải quyết (Bút lục số 32).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-ĐGTS ngày 21/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Tứ Kỳ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Vision, màu đen - đỏ, biển kiểm soát 34B3-742.73 có giá trị 19.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSTK, ngày 06/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Đào Văn Q ra trước Tòa án để xét xử về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa:
- Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ): Về tội danh, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đào Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản; Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1Điều 51; Điều 38, Điều 55, Điều 56 BLHS, xử phạt bị cáo Quang từ 12 - 15 tháng tù, tổng hợp với 17 tháng tù của bản án số 89 ngày 28/12/2023 của TAND huyện Nam Sách, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 29 - 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2023. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo Đào Văn Q thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ sáng ngày 15/10/2023, tại lán sân nhà chị Nguyễn Thị P ở thôn Thị Tứ xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ, Đào Văn Q có hành vi dùng kìm cắt kim loại phá móc khóa cửa lán, lén lút chiếm đoạt 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại xe Vision màu đen đỏ, biển kiểm soát 34B3-742.73, trị giá 19.500.000 đồng của chị Tô Thị Bích T, sinh năm 1996, trú tại thôn Thị Tứ xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ
Bị cáo là ngườ i có năng lực trách nhiê ̣m hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiê ̣n, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 19.500.000 đồng nên hành vi của các bi ̣ cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó cáo trạng của VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy tại huyện Nam Sách bị cáo khai báo về hành vi trộm cắp tài sản nên được hưởng các tỉnh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 BLHS, HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên bị cáo liên tiếp thực hiện các hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung. Hiện nay bị cáo đang chấp hành hình phạt 17 tháng tù theo quyết định của bản án số 89/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TAND huyện Nam Sách nên khi quyết định hình phạt HĐXX sẽ tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Vision đã trả lại cho chị Tô Thị Bích T và anh Nguyễn Văn T là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp quy định pháp luật nên không đặt ra giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Tình, anh Tuế đã nhận lại chiếc xe bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo phải bồi gì khác nên không đặt ra xem xét.
Đối với người đàn ông tên Hùng là người rủ bị cáo Quang và chuẩn bị công cụ để trộm cắp tài sản nhưng quá trình điều tra không làm rõ được họ tên, đị chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý. Sau này có căn cứ sẽ được xem xét giải quyết trong vụ án khác.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 55, 56 của BLHS; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"
- Xử phạt bị cáo Đào Văn Q 13 (mười ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 17 tháng tù của bản án số 89/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TAND huyện Nam Sách, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2023.
2. Về án phí:. Bi ̣ cáo Đào Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/3/2023. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương -VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan T.H.A. HS - Công an huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; - Bị hại - Lưu hồ sơ vụ án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Việt Long Phạm Xuân Sang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thành THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thành |