vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị K được ly hôn với ông Phạm Xuân Th. Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyên Kh, sinh ngày 05/10/2020 cho bà Trịnh Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời ông Phạm Xuân Th không phải cấp dư ng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trịnh Thị K xin được ly hôn với ông Phạm Xuân Th"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-01-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Nguyên là Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ TP. Biên Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2286/2023/TLST – HNGĐ ngày 20/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 450/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị K, sinh năm 1989.

Địa chỉ đăn ký thường trú: ...., xã B T, huyện Y Th, tỉnh N A.

Địa chỉ liên hệ: ..., khu phố 4, phường Q V, TP. B H, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Phạm Xuân Th, sinh năm 1988.

Địa chỉ cư trú hiện nay: ..., khu phố L Đ 2, phường T Ph, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Bà K có đơn xin vắng mặt còn ông Th vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn – bà Trịnh Thị K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Xuân Th xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo đúng quy định của pháp luật và có tổ chức đám cưới trên cơ sở cả hai tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xung đột cãi vã. Cả bà và ông Th đã nhiều lần tìm cách hàn gắn mâu thuẫn để duy trì cuộc sống hôn nhân, tiếp tục cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên cho đến nay mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông Th vẫn không thể hàn gắn được mà ngày càng trở nên trầm trọng. Vì không thể tìm được tiếng nói chung nên bà và ông Th đã sống ly thân với nhau từ đầu năm năm 2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi xin được ly hôn với ông Th để trả tự do cho nhau.

- Về con chung: Bà và ông Th có 01 con chung là cháu Phạm Nguyên Kh, sinh ngày 05/10/2020. Ly hôn bà xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng cháu Kh vì cháu còn nhỏ nên cần sự quan tâm của Mẹ nhiều hơn và hơn nữa từ trước đến nay bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng cháu Kh. Tạm thời bà không yêu cầu ông Th phải cấp dư ng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn - ông Phạm Xuân Th đã đƣợc Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng để biết đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng nhƣ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhƣng ông Th đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Do đó, Tòa án không ghi nhận đƣợc ý kiến trình bày của ông Th.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, riêng bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị K được ly hôn với ông Phạm Xuân Th.

+ Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyên Kh, sinh ngày 05/10/2020 cho bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng. Tạm thời ông Th không phải cấp dư ng nuôi con chung do bà K không yêu cầu.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do chưa có ý kiến của ông Th về các vấn đề này nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, các bên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

+ Về án phí HNGĐ-ST: Bà K phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn - ông Phạm Xuân Th hiện cư trú tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là ông Phạm Xuân Th đã được Tòa án tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để biết tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn là bà Trịnh Thị K thì có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà K và ông Th theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Trịnh Thị K và ông Phạm Xuân Th xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở cả hai tự nguyện nên căn cứ các Điều 5, Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nay bà K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện xin ly hôn được với ông Th để trả tự do cho nhau. Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng bà K xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông Th không thể hàn gắn được và cương quyết xin ly hôn với ông Th để trả tự do cho nhau. Theo bà K thì bà và ông Th chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau dẫn đến thường xuyên xảy ra xung đột cãi vã. Cả bà và ông Th đã nhiều lần tìm cách hàn gắn mâu thuẫn để duy trì cuộc sống hôn nhân, tiếp tục cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên cho đến nay mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông Th vẫn không thể hàn gắn được mà ngày càng trở nên trầm trọng. Vì không thể tìm được tiếng nói chung nên bà và ông Th đã sống ly thân với nhau từ đầu năm năm 2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Tại biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông Th ngày 30/10/2023 (BL số 29) thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông Th như thế nào thì địa phương không biết. Địa phương cũng không nhận được trình báo gì về mâu thuẫn phát sinh trong đời sống vợ chồng giữa bà K và ông Th.

Tuy nhiên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng để ông Th được biết đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông Th đều vắng mặt không có lý do và cũng không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của bà K. Điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông Th là có thật, bản thân ông Th cũng không có ý hàn gắn, đoàn tụ và níu kéo cuộc sống hôn nhân với bà K.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà K với ông Th là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà K và ông Th có 01 con chung là cháu Phạm Nguyên Kh, sinh ngày 05/10/2020. Ly hôn bà K xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng cháu Kh và tạm thời không yêu cầu ông Th phải chấp dư ng nuôi con chung. Xét thấy, ông Th không đến Tòa án làm việc, cũng không thể hiện ý kiến của mình như thế nào về vấn đề con chung. Do cháu Kh còn nhỏ nên cần sự quan tâm của người Mẹ nhiều hơn và từ khi bà K và ông Th sống ly thân (đầu năm 2023) đến nay bà K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng cháu Kh. Hiện bà K có công việc, thu nhập ổn định đảm bảo chăm sóc, nuôi dư ng con chung.

Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Kh cho bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng. Tạm thời ông Th không phải cấp dư ng nuôi con chung do bà K không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dư ng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Do ông Th vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, các bên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí HNGĐ-ST: Bà K phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định.

Lời phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 5, 8, 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị K được ly hôn với ông Phạm Xuân Th.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyên Kh, sinh ngày 05/10/2020 cho bà Trịnh Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dư ng cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời ông Phạm Xuân Th không phải cấp dư ng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con khi cần thiết, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dư ng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí HNGĐ-ST: Bà Trịnh Thị K phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009084 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

5. Bà K và ông Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.

Cỡ chữ